Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này giải thích một số khái niệm cơ bản về dịch vụ thẻ tín dụng và những điều liên quan, sự rời bỏ của khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ tín dụng, tóm tắt các nghiên cứu trước đó trong và ngoài nước về đề tài này, chỉ ra những khoảng trống nghiên cứu, đưa ra cơ sở lý luận về những yếu tố có khả năng tác động đến quyết định rời bỏ dịch vụ thẻ tín dụng của khách hàng từ đó đề xuất các kỹ thuật dự báo phù hợp. Dịch vụ thẻ tín dụng Thẻ tín dụng là một sản phẩm do ngân hàng hoặc công ty dịch vụ tài chính phát hành có hình dạng một miếng nhựa hay kim loại mỏng hình chữ nhật, những cá nhân hay tổ chức sở hữu thẻ này có thé vay tiền dé thanh toán hàng hóa và dịch vụ mà không cần thé chap hay kí giấy vay nợ tại những doanh nghiệp chấp nhận thẻ dé thanh toán. Điểm khác biệt chính giữa thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ là tiền sẽ được trừ vào tài khoản ngân hàng khi quẹt thẻ ghi nợ, ngược lại trong trường hợp thẻ tín dụng tiền sẽ lấy từ hạn mức tín dụng của chủ sở hữu.
Điều kiện của thẻ tín dụng là chủ thẻ phải trả lại số tiền đã vay đầy đủ trước hạn thanh toán hoặc cộng với khoản lãi suất áp dụng bat kỳ, cũng như khoản phí bé sung đã thỏa thuận trước đó sau thời hạn trên. Đặc điểm chung của thẻ tín dụng % Thay thé cho tiền mat: Thẻ tin dụng là một giải pháp thay thế tốt hơn cho tiền mặt. Nó xóa tan nỗi lo mang theo nhiều mệnh giá tiền tệ khác nhau đề thanh toán tại các quay giao dịch. Việc sử dụng thẻ tin dụng kha dé dang và nhanh chóng thay vì đợi hoàn tất các giao dịch tiền mặt.
Nó cũng làm giảm nguy cơ bị đánh cắp tiền và mang lại cho người dùng sự an tâm hoàn toàn. % Han mức tín dụng: Hầu hết các thẻ tín dụng đều có hạn mức tín dụng , thé hiện số dư tối đa có thé có trên thẻ tín dụng tại một thời điểm. Số dư tối đa cho pháp chủ thẻ sử dụng vào những việc bao gồm mua hàng, chuyên tiền, ứng trước tiền mặt, phí tài chính và lệ phí. Chủ thẻ tín dụng được hưởng quyền lợi của một hạn mức tín dụng đặt trên thẻ của mình.
Hạn mức tín dụng này được xác định bởi tổ chức phát hành thẻ tin dụng (ngân hàng hoặc NBFC) chỉ sau khi phân tích mức độ tín dụng của chủ thẻ. Hạn mức tín dụng có hai loại: e Hạn mức tin dụng thông thường: do ngân hàng hoặc NBFC cung cấp tại thời điểm phát hành thẻ tín dụng. Một số thẻ tín dụng không quy định giới 11180659 — Pham Thị Ngọc Bich || 5 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán Kinh Tế hạn chi tiêu trước nhưng thay vào đó cho phép chi tiêu một số tiền ma công ty phát hành thẻ tín dụng tin rằng chủ thẻ có thể trả hết dựa trên một số yếu tố như thu nhập, lịch sử tín dụng và các yếu tố chỉ tiêu. e Han mức tin dụng quay vòng: thay đổi tùy theo tình hình khả năng tài chính của chủ thẻ tín dụng.
4E Thanh toán viện frợ bằng nội tệ và ngoại tệ: Thẻ tín dụng cung cấp cho chủ sở hữu một phương tiện duy nhất đề thực hiện thanh toán bằng nội tệ (bản địa) hoặc bang ngoai té nếu can khi được yêu cầu. Thẻ tín dụng giảm bớt quá trình chuyên đổi tiền tệ rườm rà, nghĩa là nó loại bỏ những phức tạp về tài chính thường gặp phải trong việc chuyên đổi một đồng nội tệ sang ngoại tệ. Chính vì tính năng này, chủ thẻ có thé thực hiện thanh toán cho những người bán có mặt ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. % Lưu trữ hỗ sơ của tắt cả các giao dich: Các t6 chức phát hành thẻ tin dụng như ngân hàng hoặc NBFC lưu giữ hồ sơ đầy đủ về tất cả các giao dịch được thực hiện bởi chủ thẻ tin dụng của họ.
Hồ sơ như vậy giúp các tô chức này nâng cao số tiền thanh toán thích hợp mà chủ thẻ của họ phải trả, hàng tháng hoặc một số định kỳ. + Phi thông thưởng: Phí thông thường là các khoản phí thông thường cơ bản do tổ chức phát hành thẻ tín dụng tính đối với việc chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng. Các khoản phí thông thường chủ yếu được phân thành hai loại: e Phí hàng năm: được thu hang năm e Phí bố sung: được thu cho các dich vụ bố sung khác do tổ chức phát hành thẻ tín dụng cung cấp. Các dịch vụ đó bao gồm: thẻ bổ sung (một thẻ tín dụng bé sung), phát hành thẻ tin dụng mới,.
% Thời gian gia hạn: Thời gian gia hạn được gọi là số ngày bồ sung tôi thiêu ma trong đó chủ thẻ tín dụng phải thanh toán hóa đơn thẻ tín dụng của mình mà không phải chịu bất kỳ khoản lãi suất hoặc phí tài chính nào. Nếu có số dư quay vòng từ tháng trước, chủ thẻ có thể không có thời gian gia hạn cho các giao dịch mua mới của mình. Ngoài ra, chuyên khoản và ứng trước tiền mặt thường không có thời gian gia hạn. Khi hết thời gian gia hạn, lãi suất bắt đầu được cộng dồn ngay lập tức.
% Phí rit tiền mặt cao hơn: Công ty phát hành thẻ tín dung tính phí rút tiền mặt qua thẻ tín dụng tại các điểm rút tiền ATM và các bàn làm việc khác. Nói chung phí rút tiền mặt cao hơn khá nhiều phí mà ngân hàng hoặc NBFC tính cho các giao dịch tín dụng thông thường khác. Khi rút tiền mặt qua thẻ tín 11180659 — Phạm Thị Ngọc Bich || 6 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán Kinh Tế dung, lãi suất sẽ được tính ngay trong ngày. Nghia là, tiền lãi được tính kế từ ngày rút tiền mặt.
Thông thường, không có thời gian gia hạn được cung cấp cho các giao dịch tiền mặt. % Các khoản phí bố sung cho sự chậm trễ trong việc thanh toán: Việc thanh toán khoản chi tiêu thẻ tín dụng phải được thực hiện trước ngày đến hạn đã đề cập trên hóa đơn của thẻ tín dụng. Nếu không được thanh toán đúng hạn thì công ty phát hành thẻ tin dung sẽ tính thêm một số chi phí phát sinh do sự chậm trễ trong việc thanh toán. Các khoản phí này được tính dé bù đắp (thu hồi) chi phí lãi vay, chi phí quản lý và bat kỳ chi phí liên quan nào khác do tô chức phát hành thẻ tín dụng thanh toán.
a Thuế dịch vụ: Tổng số tiền được tính cho chủ thẻ tín dụng đã bao gồm thuế dịch vụ. Thuế dịch vụ bắt buộc này do chính phủ áp đặt cũng làm tăng chi phí cuối cùng mà chủ thẻ tin dụng phải trả. Nhiều nhà cung cấp thẻ tín dụng (đơn vị phát hành) có chính sách hoàn lại thuế dịch vụ được tính khi mua khí đốt, nhiên liệu và các hàng hóa tương tự khác. + Điểm thưởng: Các nhà cung cấp thẻ tín dụng luôn có sự cạnh tranh rất quyết liệt.
Đưa ra các ưu đãi khác nhau thường là một cách phù hợp dé cải thiện việc bán các sản phẩm trong quá trình kinh doanh thông thường. Theo xu hướng này, các nhà cung cấp thẻ tín dụng cũng tặng điểm thưởng dựa trên giá trị tài chính của các giao dịch do khách hàng của họ tạo ra. * Quà tặng và các uu đãi khác: Ở giai đoạn sau (tức là sau khi vượt qua số điểm thưởng xác định trước) điểm thưởng tích lũy được đổi bằng cách chuyên đối chúng thành qua tặng, ưu đãi hoàn tiền hoặc bat kỳ ưu đãi hap dẫn tương tự nào khác. Đề nhận được nhiều điểm thưởng, chủ thẻ tín dụng phải thực hiện một số lượng lớn giao dịch thông qua thẻ tín dụng của mình.
Dựa trên đặc điểm ở trên, có thê kết luận rằng thẻ tín dụng là kết quả của các chức năng ngân hang toàn diện. Thẻ tín dụng là phương tiện cho vay tài chính ngắn hạn rất tiện lợi, tuy nhiên sự an toàn và bảo mật của thẻ tín dụng cũng là điều quan trọng hàng đầu. Những điều này phụ thuộc vào khả năng bảo vệ vật lý của thẻ tín dụng cũng như tính bảo mật (bí mật) của số thẻ tín dụng, số mệnh giá thẻ (CVV), mã số cá nhân (PIN) và các thông tin xác thực nhạy cảm khác của chủ thẻ tín dụng. Những rủi ro khi sử dụng thẻ tín dụng Bat kỳ sản pham dịch vụ tài chính nào cũng đều tiềm ân nhiều nguy cơ ké cả thẻ tín dụng, đặc biệt là đối với những người mới sử dụng thẻ tín dụng, những người có thể bị mê hoặc bởi sức hấp dẫn của thứ có vẻ như là tiền “miễn phí”.
11180659 — Phạm Thị Ngọc Bich || 7 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán Kinh Tế Ngay cả một số người dùng thẻ tín dụng có kinh nghiệm vẫn rơi vào bẫy thẻ tín dụng. % Cám dỗ chỉ tiêu quá mức: Các nghiên cứu cho thấy người tiêu dùng chỉ tiêu nhiều hơn khi thanh toán băng thẻ tín dụng so với khi thanh toán bằng tiền mặt. Trong một nghiên cứu, những người tham gia sẵn sàng chỉ tiêu gấp đôi khi sử dụng thẻ tín dụng. Thật dé dang và thuận tiện để tiêu tiền bằng thẻ tin dụng và không cảm thấy "đau đớn" khi tiền mặt rời khỏi ví.
Nó cũng có thể giải thích tỷ lệ mắc nợ thẻ tín dụng ngày càng tăng. 3È Lãi suất khiến việc thanh toán số dự trở nên khó khăn hơn: Thanh toán đầy đủ số dư thẻ tín dụng mỗi tháng cho phép khách hàng không phải trả bất kỳ khoản lãi suất nào. Tuy nhiên, nếu không thanh toán số dư của mình đầy đủ thì một phần của mỗi khoản thanh toán sẽ chuyên sang thanh toán có lãi suất, làm tăng khoảng thời gian cần thiết đề thanh toán hết số dư. % Rui ro mắc nợ: Bắt kỳ lúc nào vay tiền, khách hàng đang tạo ra nợ.
Càng vay nhiều mà không trả thì nợ cảng lún sâu. Nợ nan kéo theo vô số van đề khác, và không phải tất cả chúng déu là van đề tài chính. Nó có thé dẫn đến căng thang, trầm cam và các van đề sức khỏe khác, tat cả đều có thé gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Khi đang mắc nợ, việc đạt được các mục tiêu tài chính khác sẽ khó hơn nhiều.