Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế phần 2

Tài liệu nghiên cứu Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2019

289
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ KHI TH NH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẾN NAY

2.1. KHÁI QUÁT PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ KHI TH NH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 1986

2.2. Đảng lãnh đạo toàn diện công tác dân vận bằng đường lối, chủ trương, cương lĩnh, các nghị quyết, chỉ thị đúng đắn, cách mạng, khoa học

2.2.1. Giai đoạn 1930-1945

2.2.2. Giai đoạn 1945-1954

2.2.3. Giai đoạn 1954-1975

2.2.4. Giai đoạn 1975-1986

Tóm tắt

I. Tổng quan về đổi mới lãnh đạo đảng trong công tác dân vận

Đổi mới lãnh đạo đảng trong công tác dân vận là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm phát triển kinh tế thị trường. Công tác này không chỉ giúp củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân mà còn tạo ra những chính sách phù hợp với thực tiễn. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ vai trò của công tác dân vận trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.

1.1. Định nghĩa và vai trò của công tác dân vận

Công tác dân vận là hoạt động của Đảng nhằm vận động, tập hợp nhân dân tham gia vào các phong trào cách mạng. Vai trò của công tác này là rất quan trọng trong việc xây dựng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.

1.2. Lịch sử phát triển công tác dân vận của Đảng

Từ khi thành lập, Đảng đã chú trọng đến công tác dân vận. Qua các giai đoạn lịch sử, công tác này đã có những thay đổi phù hợp với từng thời kỳ, từ kháng chiến đến xây dựng chủ nghĩa xã hội.

II. Những thách thức trong công tác dân vận hiện nay

Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, công tác dân vận đối mặt với nhiều thách thức. Sự phân hóa xã hội, sự thay đổi trong nhận thức của người dân về vai trò của Đảng là những vấn đề cần được giải quyết. Để nâng cao hiệu quả công tác dân vận, cần có những giải pháp cụ thể và phù hợp.

2.1. Sự phân hóa xã hội và tác động đến công tác dân vận

Sự phân hóa xã hội hiện nay đã tạo ra những khó khăn trong việc tập hợp nhân dân. Đảng cần có những chính sách phù hợp để thu hút mọi tầng lớp tham gia vào công tác dân vận.

2.2. Thay đổi trong nhận thức của người dân

Người dân ngày càng có nhiều thông tin và ý kiến riêng về các vấn đề xã hội. Đảng cần lắng nghe và điều chỉnh các chính sách để phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

III. Phương pháp đổi mới lãnh đạo đảng trong công tác dân vận

Để nâng cao hiệu quả công tác dân vận, Đảng cần áp dụng những phương pháp đổi mới. Việc sử dụng công nghệ thông tin, tăng cường đối thoại với nhân dân là những giải pháp cần thiết. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác này.

3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác dân vận

Công nghệ thông tin có thể giúp Đảng tiếp cận nhanh chóng và hiệu quả hơn với nhân dân. Việc sử dụng mạng xã hội để truyền tải thông tin và lắng nghe ý kiến của người dân là rất cần thiết.

3.2. Tăng cường đối thoại với nhân dân

Đối thoại trực tiếp với nhân dân sẽ giúp Đảng hiểu rõ hơn về nguyện vọng và nhu cầu của họ. Điều này không chỉ tạo ra sự gắn kết mà còn giúp nâng cao hiệu quả công tác dân vận.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong công tác dân vận

Các mô hình dân vận hiệu quả đã được triển khai tại nhiều địa phương, từ đó tạo ra những kết quả tích cực trong việc phát triển kinh tế. Những bài học từ thực tiễn sẽ là cơ sở để Đảng tiếp tục hoàn thiện công tác dân vận trong thời gian tới.

4.1. Mô hình dân vận hiệu quả tại địa phương

Nhiều địa phương đã áp dụng các mô hình dân vận sáng tạo, từ đó thu hút được sự tham gia của đông đảo nhân dân. Những mô hình này cần được nhân rộng và phát huy.

4.2. Kết quả từ công tác dân vận trong phát triển kinh tế

Công tác dân vận đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế tại nhiều địa phương. Những kết quả này cần được ghi nhận và tiếp tục phát huy trong thời gian tới.

V. Kết luận về tương lai của công tác dân vận

Công tác dân vận sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế thị trường. Đảng cần không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo để phù hợp với tình hình mới. Tương lai của công tác dân vận phụ thuộc vào sự gắn kết giữa Đảng và nhân dân.

5.1. Định hướng phát triển công tác dân vận trong tương lai

Đảng cần xác định rõ định hướng phát triển công tác dân vận trong bối cảnh mới. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả và sự tin tưởng của nhân dân đối với Đảng.

5.2. Vai trò của nhân dân trong công tác dân vận

Nhân dân là trung tâm của mọi hoạt động dân vận. Đảng cần tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực vào các phong trào, từ đó xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

17/07/2025
Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế phần 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương II PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ KHI TH NH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẾN NAY I. KHÁI QUÁT PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ KHI TH NH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 1986 Từ khi Đảng ra đời, công tác dân vận luôn là nhiệm vụ chiến lược của Đảng, được tiến hành liên tục, bằng nhiều hình thức tổ chức, biện pháp khác nhau, nhằm vận động, tập hợp tối đa lực lượng của dân tộc tiến hành công cuộc giải phóng. Ngay từ khi hình thành, công tác dân vận đã được dẫn đường bằng tư tưởng, lý luận đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; mọi cán bộ, đảng viên luôn được Bác quan tâm, rèn giũa không chỉ bằng cẩm nang nghiệp vụ “Dân vận” mà còn bằng cả đạo đức trong sáng, tinh thần nêu gương mẫu mực của chính Người. Nghĩ về Bác, để thực hiện cho được tâm nguyện cuối cùng của Người là “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn 88 kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” thì chỉ có một con đường duy nhất là phải giữ vững được niềm tin và dựa vào nhân dân.

Nguồn: Trương Thị Mai: “Tác phẩm “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Giá trị lý luận và thực tiễn đối với công tác dân vận hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 927, tháng 10/2019. Trong mỗi giai đoạn lịch sử cách mạng, công tác dân vận có phương thức, nội dung khác nhau nhưng đều nhằm mục tiêu vận động tất cả các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia vào các phong trào cách mạng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo vệ Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Ở thời kỳ này, Đảng đã đề ra những phương thức lãnh đạo công tác dân vận chủ yếu sau: 1. Đảng lãnh đạo toàn diện công tác dân vận bằng đường lối, chủ trương, cương lĩnh, các nghị quyết, chỉ thị đúng đắn, cách mạng, khoa học 1.

Giai đoạn 1930-1945 Trong Cương lĩnh đầu tiên, xác định: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày. Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức trung nông. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp.

phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt 89 phản c.m (cách mạng) thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ trung lập”1. Đại biểu cho giai cấp vô sản Việt Nam, Đảng đã đứng ra tập hợp các tầng lớp nhân dân yêu nước làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Với đường lối đúng đắn đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm được nhân dân tin theo, sớm nắm được quyền lãnh đạo cách mạng. Đường lối cách mạng đúng đắn là ngọn cờ tập hợp lực lượng; mục tiêu, chính sách đúng, hợp lòng dân là sức cuốn hút mạnh mẽ với quần chúng nhân dân.

Trong cao trào cách mạng 1930-1931, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, quần chúng công nông đã vùng lên phá bỏ gông cùm nô lệ, lập nên chính quyền cách mạng ở một số nơi ở Nghệ Tĩnh theo hình thức Xôviết; thực hiện các chính sách tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, nhưng cao trào cách mạng 1930-1931 đã khẳng định trên thực tế đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng đề ra là đúng đắn. Từ cao trào này để lại những bài học quý giá về các phương thức tập hợp, tổ chức quần chúng nhân dân, xây dựng liên minh công nông, về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, phát động phong trào quần chúng, đấu tranh giành và bảo vệ chính quyền. Đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945, đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng được nêu rõ trong Chương trình Việt Minh: “liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - __________________ 1.

Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t. 90 Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở”1 đã có sức cuốn hút mạnh mẽ các tầng lớp nhân dân tham gia các hội cứu quốc, đứng trong hàng ngũ của Mặt trận Việt Minh, tạo nên nguồn sức mạnh to lớn lật nhào ách thống trị của đế quốc, giành chính quyền về tay nhân dân trong những ngày Cách mạng Tháng Tám hào hùng của dân tộc, mở ra thời kỳ độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh đầu tiên của Đảng; đồng thời cũng là thắng lợi trong công tác dân vận của Đảng. Đảng chỉ với khoảng 3.000 đảng viên, nhưng đã tin vào dân, gắn bó với dân, hiểu dân, dựa vào sức mạnh của dân; tuyên truyền giác ngộ nhân dân hiểu rõ con đường giành độc lập, tự do, giành quyền sống; tổ chức tập hợp nhân dân vào Mặt trận, các tổ chức chính trị - xã hội và các hình thức tổ chức khác một cách linh hoạt; hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao và cuối cùng là nổi dậy, khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Giai đoạn 1945-1954 Lãnh đạo công tác dân vận bằng đường lối kháng chiến kiến quốc, thông qua việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị, sắc lệnh lãnh đạo nhiệm vụ cách mạng. Ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc xác định những vấn đề cơ bản về chủ __________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 91 trương, đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới.

Chỉ thị nhấn mạnh: “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”1 với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết. Tổ quốc trên hết”. Chỉ thị chỉ rõ “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”2. Đồng thời, Đảng chủ trương mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tăng cường đoàn kết chặt chẽ với hai dân tộc Miên, Lào chống thực dân Pháp xâm lược.

Để bảo đảm nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, ngày 4/9/1945, Chính phủ ra Sắc lệnh xây dựng Quỹ Độc lập và gửi Thư kêu gọi các tầng lớp nhân dân hưởng ứng Tuần lễ vàng (từ ngày 17 đến ngày 24/9/1945). Mặt trận Việt Minh và các cấp chính quyền bằng nhiều hình thức tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu rõ ý nghĩa của việc xây dựng Quỹ Độc lập, Tuần lễ vàng; cử cán bộ về tận thôn, xóm vận động nhân dân tích cực tham gia3. Đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến trong giai đoạn “chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công”, Trung ương Đảng quyết định tổng động viên toàn dân, toàn quốc theo nguyên tắc vừa dân chủ thuyết phục, vừa bắt buộc để gấp rút __________________ 1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh, Chính phủ, nhân dân cả nước phấn khởi góp quỹ cứu nước. Chỉ hơn hai tuần sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh, nhân dân đã tự nguyện quyên góp 370 kg vàng, 20.000 đồng vào Quỹ Độc lập và 40.000 đồng đảm phụ quốc phòng (số tiền thu về từ đảm phụ quốc phòng chỉ tính riêng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ). 92 tăng cường lực lượng kháng chiến của dân tộc. Tăng cường hoạt động quân sự tiêu diệt địch, đồng thời kêu gọi nhân dân tích cực đi dân công vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men phục vụ chiến trường.

Thực hiện Sắc lệnh tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của nhân dân để tiến tới tổng phản công do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 12/2/1950, toàn dân nô nức hưởng ứng, phong trào thi đua ái quốc và công cuộc tổng động viên kết hợp với nhau, phát triển sôi nổi mạnh mẽ trên tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng”. Tháng 2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được tiến hành, quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam. Chính cương Đảng Lao động Việt Nam nêu rõ hai nhiệm vụ chính trong những nhiệm vụ mới của Đảng là: “đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”1. Các phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong giai đoạn mới càng được phát huy trong mọi lĩnh vực.

Giai đoạn 1954-1975 Đảng lãnh đạo công tác dân vận bằng việc ban hành các chính sách vận động phù hợp với từng đối tượng cần vận động. Trong lãnh đạo kháng chiến ở miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, trên cơ sở bám sát thực tiễn, Đảng, Nhà nước luôn chú trọng lãnh đạo công tác dân vận, thông qua việc ban hành các chính sách sát hợp nhiệm vụ __________________ 1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 93 cụ thể với mỗi giai đoạn cách mạng, với từng đối tượng cần vận động.

Đây là một phương thức lãnh đạo công tác dân vận bảo đảm tính cấp thiết, cụ thể, sâu sát và hiệu quả rõ rệt. Hội nghị lần thứ mười hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III họp từ ngày 21 đến ngày 26/12/1965, xác định: “chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc”1. Để chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Đảng cử cán bộ đến tận cơ sở, nắm các tổ chức quần chúng, sử dụng các hình thức công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, đẩy mạnh phong trào của nhân dân. Thông qua hoạt động của đội ngũ nòng cốt trong các tổ chức Liên đoàn Lao động, Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do, Tổng hội học sinh, Tổng hội sinh viên, phong trào dân tộc tự quyết, Nghiệp đoàn ký giả, Lực lượng quốc gia tiến bộ,.

để tổ chức quần chúng thành đội quân chính trị hùng hậu, tham gia vào cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Trong phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Đại hội này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ