Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt Chương 3: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các từ Hán Việt chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Trung 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm từ Hán Việt trong tiếng Việt Căn cứ vào nguồn gốc hình thành và phát triển, vốn từ tiếng Việt có thể được phân chia thành hai bộ phận: các từ thuần Việt và các từ vay mượn (từ ngoại lai). Các từ vay mượn du nhập vào tiếng Việt do sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ. Sự tiếp xúc văn hóa và ngôn ngữ Hán Việt đã hình thành nên những từ mượn có nguồn gốc từ tiếng Hán, trong đó có lớp từ Hán Việt.
Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều khái niệm liên quan đến từ Hán Việt trong tiếng Việt, đó là các khái niệm: cách đọc Hán Việt, yếu tố gốc Hán, từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt Việt hóa, từ Hán Việt….Vì vậy, ở đây luận văn có nhiệm vụ phải làm rõ những khái niệm này với mục đích: một mặt, hiểu đúng, xác định đúng từ Hán Việt chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Việt; mặt khác, xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài luận văn. Khái niệm yếu tố gốc Hán Theo quan niệm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn, khái niệm yếu tố gốc Hán trong tiếng Việt dùng để chỉ “những yếu tố có nguồn gốc từ tiếng Hán” [15; tr. Trong tiếng Hán, mỗi yếu tố này là một tự vuông, còn trong tiếng Việt là một chữ (một âm tiết). Số lượng yếu tố gốc Hán là có hạn trong tiếng Việt.
Như vậy, khi nói về cách đọc là nói về ngữ âm, còn khi nói về yếu tố gốc Hán là nói về từ vựng. Khái niệm yếu tố gốc Hán được tác giả chia làm ba khu vực: - Khu vực I: là những chữ có thể đọc theo cách đọc Hán Việt nhưng không liên quan gì đến tiếng Việt như : chẩm, giá, ma. Cách nói “không liên quan gì đến tiếng Việt” có thể hiểu là những yếu tố này không tham gia vào vốn từ của tiếng Việt. Nói cách khác, nếu những yếu tố này xuất hiện thì người Việt có thể đọc nhưng không sử dụng như một yếu tố từ vựng trong ngôn ngữ của mình.
- Khu vực II: là những yếu tố người Việt mượn từ tiếng Hán nhưng không 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trực tiếp liên quan đến cách đọc Hán Việt. Những yếu tố này có thể có ba loại khác nhau: + Loại mượn trước cách đọc Hán Việt như: mùa, mùi, buồng, buồm… + Loại mượn từ đời Đường với cách đọc Hán Việt, nhưng sau có cách đọc khác với cách đọc Hán Việt như: gan, gần, vốn, vẽ… + Loại mượn thông qua một phương ngữ tiếng Hán như: mì chính, ca la thầu, vằn thắn, xá xíu… - Khu vực III: là những yếu tố mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc Hán Việt. Đây chính là những yếu tố Hán Việt. Khu vực này gồm hai loại: loại chỉ là tiếng (tức chỉ tương đương với một âm tiết), nhưng không là từ, không dùng độc lập như: quốc, gia, sơn, thủy…và loại vừa là tiếng vừa là từ, có thể dùng độc lập như: cao, thành, học, xã… Trong “Từ Hán Việt và việc giảng dạy từ Hán Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở”, tác giả Lê Xuân Thại đã chỉ ra rằng có thể chia thành hai loại yếu tố Hán Việt: - Yếu tố Hán Việt được dùng độc lập với cương vị từ, mỗi yếu tố là một từ của tiếng Việt như : hoa, quả, đông, tây, nam, bắc, bút, lợi, hại, thắng, bại… - Yếu tố Hán Việt không được dùng độc lập với cương vị từ mà chỉ là một thành tố cấu tạo từ như: sơn (núi), hải (biển), thiên (trời), địa (đất), mã (ngựa), hoàng (vàng), hắc (đen), độc (đọc), tiếu (cười), khán (xem), thính (nghe).
Từ quan niệm của hai tác giả, chúng tôi thấy rằng yếu tố Hán Việt là những yếu tố mượn từ tiếng Hán thông qua cách đọc tiếng Việt. Những yếu tố này có thể được dùng độc lập hoặc không độc lập trong tiếng Việt. Khái niệm cách đọc Hán Việt Trong công trình Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, tác giả Nguyễn Tài Cẩn cho rằng quá trình tiếp xúc Hán Việt có thể chia làm hai giai đoạn: - Giai đoạn 1 (từ khoảng đầu Công nguyên đến thế kỉ VI – VII): đây là giai đoạn chỉ lưu lại lẻ tẻ một số cách đọc gọi là cổ Hán Việt mà không thành hệ thống, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bởi vì cách đọc chữ Hán ở Việt Nam trong suốt 9 thế kỉ sau Công nguyên “luôn luôn gắn liền với những sự biến đổi xảy ra ở trong tiếng Hán”. - Giai đoạn 2 (giai đoạn cuối Đường, Ngũ đại): giai đoạn này để lại một cách đọc Hán Việt hệ thống, lưu lại một ảnh hưởng sâu đậm, tồn tại mãi đến ngày nay.
Chính vì thế, cách đọc Hán Việt nói đến cách đọc Hán Việt là sản phẩm tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán và nền văn tự Hán xảy ra vào đời Đường, theo hệ thống ngữ âm tiếng Hán (cụ thể là hệ thống Đường âm dạy ở Giao Châu, khoảng thế kỉ VIII – X). Theo tác giả, nói đến cái vỏ ngữ âm mà người Việt gán cho văn tự Hán, bất luận những chữ được đọc đó là những chữ như thế nào [15; tr. Đó có thể là những chữ ghi những tiếng đã được du nhập vào trong tiếng Việt như: tuyết, học, cao, tuy hay những chữ không liên quan gì với tiếng Việt. Tuy nhiên, từ thế kỉ X, do nhiều yếu tố chính trị và xã hội, những sự diễn biến của tiếng Hán ở bên kia biên giới không còn tác động đến tiếng Hán ở Việt Nam một cách trực tiếp với vai trò quyết định như trước nữa.
Tiếng Hán ở Việt Nam cũng chịu sự chi phối của tiếng Việt, nên cách đọc chữ Hán dựa trên hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường dần dần biến dạng đi dưới tác động của ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán và trở thành một cách đọc riêng của người Việt. Vì thế, “cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán ở Việt Nam của người Việt Nam. Cách đọc đó phản ánh dạng ngữ âm của chữ Hán thời Đường được dạy và học ở Việt Nam lúc bấy giờ. Tất nhiên, so với dạng ngữ âm của chữ Hán đời nhà Đường thì cách đọc Hán Việt cũng đã được Việt hóa ít nhiều cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt thời đó.
Từ quan niệm trên, chúng tôi hiểu cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán của người Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường và là cách xử lí về ngữ âm mà người Việt dùng để đọc mọi chữ Hán, bất kể là những chữ gì, có nghĩa hay không có nghĩa trong tiếng Việt. Khái niệm từ Hán Việt Cho đến nay, đã có không ít quan niệm về khái niệm từ Hán Việt của các nhà 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu. Chúng tôi xin dẫn quan niệm về từ Hán Việt của một số tác giả như sau: Trong “Từ vựng học tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng từ gốc Hán trong tiếng Việt gồm hai bộ phận chính: các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt (các từ Hán Việt) và các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt [12; tr. Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt, bao gồm ba loại: từ Hán cổ (các từ Hán Việt vào Việt Nam trước đời Đường), các từ Hán Việt được Việt hóa và các từ gốc Hán tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ, qua cách phát âm địa phương.
Có thể thấy, từ Hán Việt chính là các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt gồm có: - Các từ ngữ Hán được chấp nhận từ đời Đường đến nay chiếm đa số: gồm một loại là các từ tiếng Việt trực tiếp tiếp nhận từ tiếng Hán (ví dụ: triều đình, công nghiệp, văn chương…) và một loại khác là các từ tiếng Việt tiếp nhận của các ngôn ngữ khác nhưng thông qua tiếng Hán (ví dụ từ câu lạc bộ tiếp nhận từ tiếng Anh). - Các từ ngữ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam: đây là các từ ngữ do người Việt sử dụng các yếu tố gốc Hán để tạo ra các từ mới không có trong tiếng Hán, bao gồm hai loại: + Những đơn vị được tạo ra do kết hợp với các yếu tố gốc Hán, so sánh: an trí (chữ Hán), náo động (chữ Hán), tiểu đoàn (chữ Hán), đại đội (chữ Hán)… Tuy nhiên, trong số các ví dụ nêu trên có trường hợp không phản ánh đúng quan niệm của tác giả, chẳng hạn hai từ an trí (chữ Hán), đại đội (chữ Hán) đều có trong tiếng Hán, tức chúng thuộc loại những từ tiếng Việt tiếp nhận trực tiếp từ tiếng Hán như các từ: anh hùng (chữ Hán), công nghiệp (chữ Hán), văn chương (chữ Hán… mà tác giả đã nêu. + Những đơn vị được tạo ra do một yếu tố gốc Hán kết hợp với một yếu tố thuần Việt, ví dụ: binh (chữ Hán) lính, cướp đoạt (chữ Hán), đói khổ (chữ Hán), súng trường (chữ Hán)… Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” chỉ ra rằng từ Hán Việt là “những từ gốc Hán du nhập 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vào tiếng Việt trong giai đoạn hai (từ đời Đường trở về sau) mà người Việt đọc theo âm chuẩn (Trường An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình. Cách đọc này đã được duy trì (với những biến đổi ít nhiều) cho đến tận ngày nay.
Theo tác giả Nguyễn Như Ý, từ Hán Việt hay từ Việt gốc Hán được định nghĩa là “từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt” [17; tr. Trong khi đó, các tác giả Hoàng Văn Hành và Hồ Lê trong “Bàn về cách dùng thuật ngữ thuần Việt thay từ ngữ Hán Việt”, Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt lại cho rằng theo cách hiểu thông thường từ ngữ Hán Việt là những từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt.