CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ THẺ VÀ ĐO LƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TRONG VIỆC SỬ DỤNG THẺ TẠI CÁC NHTM 1. Tổng quan về dịch vụ thẻ của NHTM 1. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo Zeithaml & Britner (2000) [1] dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho Khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của Khách hàng.
Theo Kotler & Armstrong (2006) [2], dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho Khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với Khách hàng. Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu.
Việc tìm hiểu chất lượng dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp cải thiện chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Vì vậy, nó không chỉ quan trọng trong việc xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho ngân hàng phát huy được thế mạnh của mình một cách tốt nhất. Chất lượng dịch vụ có thể được hiểu thông qua các đặc điểm của nó. Xét một cách tổng thể, chất lượng dịch vụ bao gồm các đặc điểm sau: a.
Tính vượt trội: Đối với Khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượt trội “ưu việt” của mình so với những sản phẩm khác. Chính tính ưu việt này làm cho chất lượng dịch vụ trở thành thế mạnh cạnh 5 tranh của các nhà cung cấp dịch vụ. Sự đánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự cảm nhận từ phía người sử dụng dịch vụ. Quan hệ này có ý nghĩa rất lớn đối với việc đánh giá chất lượng dịch vụ từ phía Khách hàng trong các hoạt động marketing và nghiên cứu sự hài lòng của Khách hàng.
Tính đặc trưng của sản phẩm: Chất lượng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi nhất và tinh túy nhất kết tinh trong sản phẩm dịch vụ tạo nên tính đặc trưng của sản phẩm dịch vụ. Vì vậy, dịch vụ hay sản phẩm có chất lượng cao sẽ hàm chứa nhiều “đặc trưng vượt trội” hơn so với dịch vụ cấp thấp. Sự phân biệt này gắn liền với việc xác định các thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm dịch vụ. Chính nhờ những đặc trưng này mà Khách hàng có thể nhận biết chất lượng dịch vụ của ngân hàng khác với các đối thủ cạnh tranh.
Tuy nhiên, trong thực tế rất khó xác định các đặc trưng cốt lõi của dịch vụ một cách đầy đủ và chính xác. Vì vậy, các đặc trưng này không có giá trị tuyệt đối mà chỉ mang tính tương đối giúp cho việc nhận biết chất lượng dịch vụ trong trường hợp cụ thể dễ dàng hơn thôi. Tính cung ứng: Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện, chuyển giao dịch vụ đến Khách hàng. Do đó, việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ và cách cung ứng dịch vụ sẽ quyết định chất lượng dịch vụ tốt hay xấu.
Đây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung cấp dịch vụ. Chính vì thế, để nâng cao chất lượng dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ trước tiên cần phải biết cải thiện yếu tố nội tại này để tạo thành thế mạnh lâu dài của chính mình trong hoạt động cung cấp dịch vụ cho Khách hàng. Tính thỏa mãn nhu cầu: Dịch vụ được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu Khách hàng. Do đó, chất lượng dịch vụ nhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu Khách hàng và lấy yêu cầu của Khách hàng làm căn cứ để cải thiện chất lượng dịch 6 vụ.
Nếu Khách hàng cảm thấy dịch vụ không đáp ứng được nhu cầu của mình thì họ sẽ không hài lòng với chất lượng dịch vụ mà họ nhận được. Trong môi trường kinh doanh hiện đại thì đặc điểm này càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết vì các nhà cung cấp dịch vụ phải luôn hướng đến nhu cầu Khách hàng và cố gắng hết mình để đáp ứng các nhu cầu đó. Sẽ là vô ích và không có chất lượng nếu cung cấp các dịch vụ mà Khách hàng đánh giá là không có giá trị. Xét trên phương diện phục vụ Khách hàng, “tính thỏa mãn nhu cầu” đã bao gồm cả ý nghĩa của “tính cung ứng”.
Sở dĩ như vậy là vì chất lượng dịch vụ bắt đầu từ khi ngân hàng nắm bắt nhu cầu của Khách hàng đến khi triển khai dịch vụ nhưng chính trong quá trình thực hiện cung ứng dịch vụ mà Khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng không và từ đó cảm nhận chất lượng dịch vụ tốt hay xấu. Nếu tính cung ứng mang yếu tố nội tại thì tính thỏa mãn nhu cầu lại bị chi phối bởi tác động bên ngoài nhiều hơn. Tính tạo ra giá trị: Rõ ràng, chất lượng dịch vụ gắn liền với các giá trị được tạo ra nhằm phục vụ Khách hàng. Dịch vụ không sản sinh ra giá trị nào hết thì được xem là không có chất lượng.
Ví dụ, ngân hàng tạo ra giá trị và Khách hàng là đối tượng tiếp nhận những giá trị đó.Vì vậy, việc xem xét chất lượng dịch vụ hay cụ thể hơn là các giá trị đem lại cho Khách hàng phụ thuộc vào đánh giá của Khách hàng chứ không phải của ngân hàng. Thông thường, Khách hàng đón nhận những giá trị dịch vụ mang lại và so sánh chúng với những gì họ mong đợi sẽ nhận được. Nói cách khác, tính giá trị của chất lượng dịch vụ cũng bị chi phối nhiều bởi yếu tố bên ngoài (Khách hàng) hơn là nội tại (ngân hàng). Chất lượng dịch vụ cao là dịch vụ tạo ra các giá trị không chỉ đáp ứng nhu cầu Khách hàng mà còn vượt hơn hẳn các mong muốn của Khách hàng và làm cho ngân hàng trở nên nổi bật hơn đối thủ cạnh tranh.
Do đó, tính tạo ra giá trị là đặc điểm cơ bản và là nền tảng cho việc xây dựng và phát triển chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Tóm lại, chất lượng dịch vụ là nhân tố tác 7 động nhiều đến sự hài lòng của Khách hàng. Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho Khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì ngân hàng đó đã bước đầu làm cho Khách hàng hài lòng. Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng của Khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ.
Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của Khách hàng có mối quan hệ hỗ tương chặt chẽ với nhau, trong đó chất lượng dịch vụ là cái tạo ra trước, quyết định đến sự hài lòng của Khách hàng. Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của Khách hàng. Chất lượng dịch vụ thẻ của NHTM Dịch vụ Thẻ là một trong những dịch vụ nằm trong nhóm dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Theo đó, dịch vụ thẻ của một ngân hàng cung ứng cho các Khách hàng các dịch vụ tiện ích liên quan đến các sản phẩm thẻ của ngân hàng và các giá trị gia tăng gắn liền với thẻ.
Có thể nói dịch vụ thẻ là một dịch vụ phát triển nhanh chóng và đa dạng bậc nhất hiện nay của bất kỳ một ngân hàng thương mại nào tại Việt Nam và trên thế giới. Ngoài các dịch vụ tiện ích cơ bản gắn liền với thẻ như dịch vụ rút tiền, chuyển khoản, vấn tin số dư, đổi mật khẩu… tại các máy ATM, dịch vụ thẻ hiện nay còn phát triển đa dạng với các tiện ích như thanh toán hóa đơn các dịch vụ điện, nước, nộp thuế thông qua tài khoản thẻ. Ngoài ra, việc đa dạng các dịch vụ thẻ còn mở rộng ra các kênh thanh toán qua điện thoại, tin nhắn sử dụng tài khoản thẻ tại các ngân hàng. Việc này mang lại các tiện ích to lớn cho các KH, chỉ với một tài khoản mở tại ngân hàng, thông qua cá thao tác đơn giản tại máy ATM, internet, mobile, SMS KH có thể thanh toán các dịch vụ thông dụng hay có thể mua hàng, chuyển tiền đến khắp nơi trên thế giới.
Giống như đối với các dịch vụ khác, sự hài lòng của KH đối với dịch vụ thẻ được đánh giá thông qua các tiêu chí đặc trưng của Dịch vụ. Kết quả nghiên 8 cứu định tính cho thấy chất lượng dịch vụ thẻ của một ngân hàng là một khái niệm đa hướng gồm các thành phần, đó là (1) Các tiện ích vượt trội, riêng có của dịch vụ, (2) Tính đặc trưng, dễ nhận biết của dịch vụ, (3) Khả năng cung ứng dịch vụ của nhân viên ngân hàng, (4) Cách tiếp thị dịch vụ, (5) Địa điểm cung cấp dịch vụ, (6) Tính tiện ích và an toàn của dịch vụ. Đặc điểm của Khách hàng khi sử dụng dịch vụ thẻ của NHTM Nói chung, ngày nay chất lượng dịch vụ trở thành vũ khí cạnh tranh số một, nó là phương thức tốt nhất tạo ra sự khác biệt về mặt lợi ích giữa các đối thủ cạnh tranh khi cung cấp các gói sản phẩm cho một Khách hàng. Chiến lược tập trung vào chất lượng dịch vụ, định hướng vào Khách hàng, thân thiện hóa ngày càng trở thành khả năng thực tế hơn là việc tập trung vào chính sách giá.
Cook và Walter là 2 học giả cũng đã đưa ra quan điểm trên áp dụng trong lĩnh vực bán lẻ. Trong giai đoạn những năm 60 – 70 của thế kỷ trước, chính sách giá thống trị trong việc tạo ra sức cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ. Áp lực được đặt lên tỷ lệ chiết khấu, chính sách giá cao khi thâm nhập vào một thị trường mới và mở rộng phổ giá đã dẫn tới sự xuất hiện những phương án “Phi giá” – không dựa vào chính sách giá đã được xuất hiện trong lĩnh vực bán lẻ. Trong những năm 70 – 80 lại nhìn nhận xu hướng tập trung về việc mở rộng phổ sản phẩm.
Từ những năm giữa thập niên 80, các dịch vụ đi kèm được sự dụng để gia tăng sự khác biệt và tính cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ.