Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐO LƯỜNG RỦI RO HỆ THÓNG CO PHIEU NGANH NGAN HANG BANG MO HINH CAPM 1. DO LUONG TY SUAT LOI TUC VA RUI RO: 1. Tỷ suất lợi tức và Đo lường tỷ suất lợi tức Tỷ suất lợi tức được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa các khoản thu nhập và giá trị các khoán đầu tư bỏ ra. Do lường tỷ suất lợi tức: ng ay Trong đó: ~ R: là tỷ suất lợi tức thực (hoặc kỳ vọng) ~ D; là cỗ tức - P¿ là giá cổ phiếu ở thời điểm t ~ P.¡: là giá cô phiều ở thời điểm t-1 Nếu lấy cổ tức và giá cổ phiếu theo số liệu thực tế thì ta có tý suất lợi tức thực Nếu lấy cỗ tức và giá cô phiếu theo số liệu kỳ vọng thì ta có tỷ suất lợi tức kỳ vọng.
Lợi tức kỳ vọng của một chứng khoán: £(#)= p,, (12) 1. Rủi ro và Đo lường rủi ro: 1. Khái niệm rủi ro: “Cho đến nay chưa có được khái niệm thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những khái niệm rủi ro khác nhau.
Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tồn thất mắt mát, nguy hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bắt ngờ xảy đến. Đó là sự tồn thất về tải sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tẾ so. với lợi nhuận dự kiến.
Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mắt mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa. mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rúi ro có thê mang đến những tồn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thé mang lại những lợi ích, những cơ hội [33] 1.
Phân loại rủi ro: “Xét về mặt định tính, rủi ro tổng thể của một công ty (hay cô phiếu) là một tổng của hai thành phần cơ bản: Rủi ro phi hệ théng (unsystematic risk) là những yếu tổ tác đông gắn liễn với từng công ty riêng biệt như rủi ro kinh doanh hay rủi ro tài chính của công ty đó, mà không ảnh hưởng đến các công ty khác (trừ các công ty lớn). rủi ro loại này, nhà đầu tư thường đa dạng hoá danh mục của mình. Do vậy rủi ro phi hệ thống còn được gọi là Rúi ro có thé đa dạng hoá (diversifiable risks). Rủi ro hệ thống (systematic risk) là các yếu tố tác động lên tắt cả các công ty trên thị trường, tất cá các công ty đều bị chỉ phối bởi rủi ro hệ thông.
Như vậy các nhà đầu tư không thể đa dạng hoá để giảm thiểu rủi ro hệ thông. Do đó rủi ro nay còn được gọi là Rúi ro không thé da dang hod (non-diversifiable risks) "[1]. Đo lường rủi ro: Đo lường rủi ro của một cỗ phi : Phương sai và độ lệch chuẩn (của lợi tức cổ phiếu đó so với giá trị trung bình của nó) là hai phép đo rủi ro phỏ biến nhất Trong thực tế nhiều khi chỉ xác định kỳ vọng toán của biến ngẫu nhiên thỉ chưa đủ để xác định biến ngẫu nhiên đó. Ta còn phải xác định mức độ phân tán của các giá trị của biển ngẫu nhiên xung quanh giá trị trung bình của nó.
Người ta cho rằng đặc trưng cho mức độ phân tán thì đơn giản nhất là tìm tắt cả các sai lệch của các giá trị của biến ngẫu nhiên so với kỳ vọng toán của nó và lấy trung bình số học của các sai lệch đó. Song cách làm này không mang lại kết quả vì có thể dễ dàng chứng minh được rằng với mọi biến ngẫu nhiên thì trung bình số học của các sai lệch luôn bằng. Sở đĩ có điều đó vì các sai lệch dương và sai lệch âm xung quanh giá trị kỳ vọng toán học bao giờ cũng bủ trừ cho nhau, do đỏ giá trị trung bình của các sai lệch sẽ bằng không. Để khắc phục điều này, người ta không tính trực tiếp trung bình của các sai lệch mà tính trung bình của các giá trị tuyệt đối hoặc bình phương của các sai lệch.
Song đơn giản hơn là tìm trung bình của bình phương các sai lệch. Từ đó chúng ta có khái niệm phương sai và độ lệch chuẫi + Phương sai của tỷ suat Igi tite (6°): o? =dolk, -E(R)} (13) + Độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức (ø): ơ. ye lk -£R)F C4) Nếu phân phối của lợi tức tuân theo quy luật phân phối chuẩn, chỉ tiêu phương sai hoặc độ lệch chuẩn được sử dụng để đo lường rủi ro trong đầu tư tài chính. Đo lường rủi ro của một danh mục đầu tư: Trong thực tế, các nhà đầu tư ít khi nào dồn hết toàn bộ tải sản của mình vào một khoản đầu tư duy nhất.
Do vậy, các nhà đầu tư thường lựa chọn môt danh mục dau tu (portfolio) là sự kết hợp của 2 hay nhiều chứng khoán hoặc tài sản trong đầu tư. Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư đơn giản chỉ là trung bình có trọng. số của các lợi nhuận kỳ vọng của từng chứng khoán trong danh mục đầu tư. Trọng số ở đây chính là tỷ trọng của từng loại chứng khoán trong danh mục đầu tư.
Công thức tính lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư như sau: EÍR,)=>w,E(R). (15) Trong đó:Šw, =1, W, là ty trọng của chứng khoán ¡, E(R,) là lợi tức kỳ vọng của chứng khoán ¡, và k là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư Rai ro của danh mục đầu tư được đo lường bởi phương sai hoặc độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư. Không giống lợi tức, việc xác định phương sai hoặc độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư rất phức tạp do ảnh hưởng của yếu tố hiệp phương. sai tức là mức độ quan hệ giữa rủi ro của các chứng khoán trong danh mục đầu tư.
Phương sai của danh mục đầu tư được xác định bởi công thức: (16) q7) Trong đó n là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư, W, là tỷ trọng của chứng khoán ¡ trong danh mục, W, là tỷ trọng của chứng khoán j trong danh mục và ơ; là hiệp phương sai giữa lợi nhuận của chứng khoán ¡ và j. Hiệp phương sai lợi nhuận của 2 chứng khoán là chỉ tiêu đo lường mức độ quan hệ tuyển tính giữa 2 chứng khoán (giải sử chứng khoán A và chứng khoán B). Hiệp phương sai được xác định bởi công thức: 2, ~Š n8, ~ E(&,)Ï8,, ~E(&,] (18) Hiệp phương sai có thể dương (+), âm (-) hoặc bằng không (0). Tuy nhiên hiệp phương sai không giúp chúng ta hiểu đầy đủ quan hệ giữa 2 chứng khoán.
Ta có khái niệm hệ số tương quan giữa 2 chứng khoán: _- 2z Địa = Zø, (1:9) Ta có =l<ø„„<1 Øx¿ =+\: Tương quan thuận hoàn hảo „„ =~!: Tương quan nghịch hoàn hảo. Hiệp phương sai hay hệ số tương quan có ảnh hưởng rất lớn đến rủi ro của. một danh mục đầu tư. Đa dạng hóa chỉ mang lại lợi ích (giảm thiểu rủi ro) khi hệ số tương quan giữa các tài sản nhỏ hơn Ì.
Rủi ro hệ thống: “Nếu rủi ro phi hệ thống có thể được triệt tiêu bằng con đường đa dạng hoá, thì việc đòi hỏi một thước đo mới của rủi ro là đều tất yếu. Thước đo mới chỉ liên quan đến rủi ro hệ thống. Khái niệm beta được hình thảnh trong quá trình giới tài chính tìm cách lượng hoá rúi ro hệ thống. Khi nói rủi ro phi hệ thống có thể bị triệt tiêu bằng cách đa dạng hoá, điều này không có nghĩa là tất cả mọi nhà đầu tư đều nắm giữ danh mục thị trường và bỏ.
qua việc xác định rúi ro phi hệ thống của từng công ty. Tuy nhiên, việc xác định rủi ro phi hệ thống, được xem là một nghệ thuật, bởi vì mỗi ngành, mỗi công ty đều có những rủi ro riêng của nó. Loại rủi ro này không có bắt cứ một cơ sở chung nào giữa các doanh nghiệp để có thể mô hình hoá nó thành một công thức. Do vậy, người ta chỉ có thé kim điều này với rủi ro hệ thống dựa trên cơ sở chung là sự biển động tỷ suất lợi tức của từng cô phiếu so với sự biến động tỷ suất lợi tức của toàn bộ thị trưởng.
Và như thế khái niệm hệ số beta da ra đời để thực hiện nhiệm vụ đo lường rủi ro và có khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau. Beta được xác định với đầu vào là các tỷ suất lợi tức, mà tỷ suất này được tính toán dựa trên các mức giá của cô phiều theo thời gian. Xét về mặt toán học beta. chi là một công cụ đo lường khả năng biển động giá của các cổ phiều so với sự biến đông của chỉ số thị trường.
Tại sao nói beta là một đại diện cho rủi ro của doanh. nghiệp, chỉ có thế giải thích vấn để này bằng Giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH - Efficient Market Hyppothesis), theo thuyết này giá cả chứng khoán sẽ phản ánh tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, beta đo lường rúi ro trong sự thay đôi mức giá của cỗ phiểu, cũng chính là đo lường rủi ro của doanh nghiệp. Trên thể giới, các thị trường tài chính phát triển được xem như là thị trường hiệu quả.
Hệ số beta ở các thị trường này là một thước đo hiệu quả của rủi ro hệ thống”[1]. Trong thực tế, người ta thường sử dụng mô hình CAPM (mô hình định giá tai san tài chính) để giải thích mỗi quan hệ giữa rủi ro và lợi tức của tài sản tài chính. CAPM là cơ sở quan trọng để chứng minh rằng nếu một danh mục đầu tư có độ đa dạng hoá cao thì rúi ro phi hệ thống sẽ gần như bị triệt tiêu và chỉ còn lại rủi ro hệ thống. Mô hình CAPM do William Sharpe phát triển từ những năm 1960 và đã có được nhiều ứng dụng từ đó đến nay.
Mặc dủ cỏn có một số mô hình 10 khác nỗ lực giải thích động thái thị trường nhưng mô hình CAPM là mô hình đơn gián về mặt khái niệm và có khả năng ứng dụng sát thực với thực tiễn.