CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ TRUYỀN ĐỘNG XA- Đ 1. Giới thiệu chung về hệ xung áp – động cơ. Các bộ biến đổi xung áp một chiều (kí hiệu xung áp DC – XADC) dùng cho các ứng dụng biến đổi mức điện áp một chiều. Băm xung một chiều (BXMC) là thiết bị dùng để thay đổi điện áp một chiều ra tải từ một nguồn điện áp một chiều cố định.
Băm xung một chiều được ứng dụng để điều chỉnh tốc độ động cơ điện một chiều, tạo nguồn ổn áp dải rộng,vv… 1. Nguyên lý chung của bộ biến đổi xung áp một chiều Nguyên lý cơ bản của băm xung một chiều được mô tả trên hình (1. Giữa nguồn một chiều E và tải Rt là van Tr làm việc như một khóa điện tử, hoạt động của BXMC là cho van đóng cắt với quy luật: - Trong khoảng thời gian 0 - t 0 cho van dẫn (khóa Tr đóng mạch) điện áp U t sẽ cho giá trị bằng điện áp nguồn U t = E. - Từ t 0 – T van Tr không dẫn (mạch hở), tải bị ngắt khỏi nguồn U t = 0.
Như vậy giá trị trung bình của điện áp trên tải nhận được sẽ là: t0 1 t ∫ T 0 Edt = 0 E = γE T (1. Nguyên lý băm xung một chiều (BXMC) Đồ án tốt nghiệp 6 Khoa: Điện Lớp: DHTDHCK12Z Trong đó: - t 0 là thời gian van Tr dẫn. - γ là độ rộng xung điện áp chính là tham số điều chỉnh. - T là chu kỳ đóng cắt của van.1) cho thấy có thể điều chỉnh điện áp ra bằng cách thay đổi tham số γ.
Việc điều chỉnh điện áp bằng cách “băm” điện áp một chiều E thành các “xung” điện áp ở đầu ra nên thiết bị này gọi là “Băm xung một chiều – BXMC”. Có hai phương pháp chính cho phép thay đổi tham số γ là: - Thay đổi thời gian t 0 còn giữ nguyên chu kỳ T không đổi, như vậy ta dùng cách thay đổi độ rộng xung điện áp ra tải trong quá trình điều chỉnh, nên cách này được gọi là phương pháp điều chế độ rộng xung PWM. - Thay đổi chu kỳ T, giữ nguyên thời gian t 0 không đổi. Cách này ngược lại với phương pháp trên, độ rộng xung điện áp ra tải được giữ nguyên mà chỉ thay đổi tần số lặp lại của xung này, vì vậy được gọi là phương pháp xung - tần.
Phương pháp này không thuận lợi khi điều chỉnh điện áp trong một giải rộng, vì tần số biến thiên nhiều sẽ làm thay đổi mạch giá trị trở kháng khi mạch có điện cảm hoặc tụ điện nên khó tính toán thiết kế, nhất là các hệ thống điều chỉnh kín vì lúc đó mạch thuộc hệ có tham số biến đổi. Ta thấy rằng khóa điện tử Tr chỉ làm việc như một van bán dẫn, vì vậy băm xung một chiều có nhiều ưu điểm như: - Hiệu suất cao vì tổn hao công suất trong bộ biến đổi là không đáng kể so với các bộ biến đổi liên tục do tổn hao ở van bán dẫn là nhỏ. - Độ chính xác cao và ít chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường vì yếu tố điều chỉnh là thời gian đóng khóa Tr mà không phải giá trị điện trở phần tử điều chỉnh như những bộ điều chỉnh liên tục kinh điển. - Kích thước gọn và nhẹ.
Tuy nhiên bộ BXMC cũng có nhược điểm là: - Cần có bộ lọc đầu ra, do đó làm tăng quán tính điều chỉnh. - Tần số đóng cắt lớn sẽ gây nhiễu cho các thiết bị xung quanh. Các bộ băm xung một chiều được phân tích thành BXMC không đảo chiều và BXMC có đảo chiều dòng tải. Đồ án tốt nghiệp 7 Khoa: Điện Lớp: DHTDHCK12Z 1.
Băm xung một chiều không đảo chiều 1. Bộ băm xung một chiều nối tiếp Hình 1. Sơ đồ băm xung áp nối tiếp. Sơ đồ xung áp động cơ nối tiếp cho trên (hình 1.
Trên sơ đồ phần tử cơ bản là khóa điện từ V, là một van điều khiển hoàn toàn nào đó (GTO, IGBT, MOSFET, BJT), được mắc nối tiếp giữa tải và nguồn. Từ đó sơ đồ có tên là xung áp động cơ nối tiếp. Diode D0 có vai trò quan trọng trong sự hoạt động của sơ đồ, gọi là diode không. Diode này sẽ dẫn dòng tải khi V khóa.
Sơ đồ hoạt động theo nguyên lý sau: Từ 0 đến t x : V thông, nối tải vào nguồn, U t = E. Từ t x đến T: V khóa lại, tải bị cắt khỏi nguồn. Nếu tải có tính cảm,do năng lượng tích lũy trong điện cảm tải, dòng tải phải tiếp tục duy trì qua diode D0, U t = 0. - Xét trường hợp tải trở cảm.
Tải trở cảm tiêu biểu trong bộ băm xung áp một chiều là mạch kích cho các máy phát điện đồng bộ công suất nhỏ, dưới 30 KW. Trong những hệ máy công suất vừa dưới 300 KW, nếu mạch kích từ là hệ máy phát kích công suất nhỏ thì bộ băm xung được dùng để điều chỉnh kích từ cho máy phát kích từ. Ta có hệ phương trình mô tả hoạt động của sơ đồ (hình 1.2) là: di Khi V thông: iR + L =E dt di Khi V không thông: : iR + L =0 dt Đồ án tốt nghiệp 8 Khoa: Điện Lớp: DHTDHCK12Z t Các phương trình vi phân này có nghiệm tổng quát dạng: i = A e - τ .3) L Trong đó τ = có đơn vị là (s), gọi là hằng số thời gian mạch tải. R Nghiệm tổng quát thỏa mãn phương trình khi V thông có dạng: t L - i= +B e τ.4) R Các hằng số A và B trong (1.4) có thể xác định được trong chế độ xác lập khi dòng điện ở đầu mỗi chu kì phải bằng dòng điện ở cuối chu kì.
Ngoài ra dòng điện còn phụ thuộc chế độ dòng liên tục hay gián đoạn như sẽ phân tích sau đây. Dạng dòng điện, điện áp của các phần tử trên sơ đồ, trong các chế độ làm việc khác nhau thể hiện trên đồ thị (hình 1. Dạng dòng điện, điện áp của các phần tử trong sơ đồ XADC nối tiếp a. Chế độ dòng điện liên tục.
Trong chế độ này dòng điện bắt đầu từ một giá trị lớn hơn 0 và bằng giá trị kết thúc chu kì, như trên đồ thị (hình 1. Viết lại các biểu thức dòng điện như sau: Đồ án tốt nghiệp 9 Khoa: Điện Lớp: DHTDHCK12Z t Trong khoảng 0 < t < t x : i = L + B e τ. - x R t -tx Trong khoảng t x < t < T : i = A e - τ. Với các điều kiện đầu: i(t = 0) = i(t = T) ta sẽ xác định được A và B trong phương trình trên.
Do đó dòng điện qua van và diode D0 có dạng: T -tx t - - x t -tx τ τ E Ee -1 E 1-e - IV = + T. R R - τ R - 1-e 1-e τ Độ đập mạch của dòng tải ∆ I = i( t = t x ) – i(t = 0) nên: t -tx ( ) - tx τ E Ee -1 - τ ∆I= + T e - 1. Chế độ dòng tải gián đoạn. Dòng tải gián đoạn khi khi năng lượng tích lũy trong điện cảm tải không đủ để duy trì dòng điện khi van V không thông.
Dòng bắt đầu từ 0 ở đầu chu kì và về bằng 0 trước khi kết thúc chu kỳ: i(t =0) = 0; iV ( t = t X ) = iu ( t = t X ). Xem đồ thị (hình 1.3) Các biểu thức dòng điện qua van và diode có dạng như sau: t t E - E - t -t x iV = (1 - e τ ). R R Về lý thuyết dòng điện i D chỉ về 0 khi t = ∞. Tuy nhiên trong thực tế nếu T - t x > 3 - 4 τ thì có thể coi như dòng đã về bằng không.
Như vậy chế độ dòng điện gián đoạn có thể xảy ra nếu hằng số thời gian của mạch tải quá nhỏ hoặc khi điều khiển mà t 0 = T - t x > 3 - 4 τ. - Xét trường hợp tải có sức phản điện động. Tải có sức phản điện động có thể là phần ứng của động cơ điện một chiều hoặc acquy trong quá trình nạp. Trong thực tế XADC thường được dùng để điều khiển tốc độ các động cơ điện một chiều bằng phương pháp thay đổi điện áp mạch phần ứng.
Đồ án tốt nghiệp 10 Khoa: Điện Lớp: DHTDHCK12Z Hình 1. Sơ đồ XADC tải có sức phản điện động Theo sơ đồ (hình 1.4), hệ phương trình mô tả có dạng: di Khi V thông: iR + L = E - Ed. dt di Khi V khóa: iR + L = - Ed dt Để xác định dòng điện ta cần giải hệ phương trình này bằng phương pháp tương tự như trên. Nghiệm có dạng giống như trường hợp tải trở cảm nhưng có thêm tác dụng của E d và cũng phân biệt cho hai chế độ dòng điện, dòng gián đoạn và dòng liên tục.
Đồ thị đạngòng điện, điện áp của các phần tử trên sơ đồ XADC, tải có sức phản điện động cho trên (hình 1. a) Chế độ dòng liên tục. b) Chế độ dòng gián đoạn. Dạng dòng điện điện áp của các phần tử trên sơ đồ XADC, tải có sức phản điện động.
Chế độ dòng liên tục. Đồ án tốt nghiệp 11 Khoa: Điện Lớp: DHTDHCK12Z Dòng tải sẽ được biểu diễn qua các dòng điện qua van và qua diode D0 như sau: T -tx t - T - x t -tx E - Ed E e -1 τ - τ - E E 1-e - τ τ iV = + T e ; id = - T e R R - τ Ed R - 1-e 1-e τ Có thể thấy rằng dòng điện có dạng như trường hợp tải trở cảm thông thường, - Ed chỉ khác là dòng qua van và diode đều có thêm thành phần dòng điện một chiều R do tác dụng của sức phản điện động. Dạng dòng tải cho trên đồ thị (hình 2. Độ đập mạch của dòng tải không thay đổi khi trong mạch có E d nên: t -tx - tx τ Ee -1 - τ ∆I= T ( e - 1) R - 1-e τ d.
Chế độ dòng điện gián đoạn: Dạng dòng điện tải và điện áp tải cho trên đồ thị (hình 1. Các biểu thức dòng điện qua van và diode có dạng như sau: t tx t -tx E - Ed - E E E - Ed - τ - τ iV = (1 - e ) ; i d = - +( - τ e )e R R R R e.