Đề án Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 - Tập 1: Thuyết minh chung

Giới thiệu tổng quan Đồ án quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045. Tập 1 cung cấp phần thuyết minh chung về mục tiêu,

Trường đại học

Viện Năng Lượng

Chuyên ngành

Năng lượng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề án quy hoạch

2021

843
0
0

Phí lưu trữ

135 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quy hoạch phát triển điện lực quốc gia 2021 2030

Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 là đề án chiến lược do Bộ Công Thương chủ trì, giao Viện Năng lượng phối hợp Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo thực hiện. Đề án mang mã công trình E-542, được xây dựng dựa trên Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Mục tiêu cốt lõi là đảm bảo cung cấp đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đề án kế thừa và phát triển từ Quyết định số 428/QĐ-TTg năm 2016 về điều chỉnh quy hoạch điện lực giai đoạn 2011-2020. Quá trình xây dựng trải qua nhiều lần dự thảo, phản biện chặt chẽ để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Văn bản này đóng vai trò là tài liệu gốc định hướng toàn bộ chiến lược phát triển ngành điện trong dài hạn.

1.1. Bối cảnh và cơ sở pháp lý ban hành đề án

Đề án quy hoạch điện lực quốc gia được xây dựng trong bối cảnh nhu cầu điện tăng trưởng mạnh, hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam đạt 1,67 lần trong giai đoạn 2011-2019, cao hơn nhiều quốc gia trong khu vực APEC. Nghị quyết 13/NQ-TW khóa XI nhấn mạnh điện phải đi trước một bước. Nghị quyết 55-NQ/TW năm 2020 của Bộ Chính trị đặt ra định hướng chiến lược phát triển năng lượng đến năm 2045. Các cơ sở pháp lý này tạo hành lang vững chắc cho việc lập quy hoạch tổng thể ngành điện quốc gia.

1.2. Phạm vi và phương pháp xây dựng đề án

Phạm vi đề án bao gồm toàn bộ hệ thống điện quốc gia từ nguồn điện, lưới truyền tải đến phân phối điện tại 63 tỉnh thành. Phương pháp xây dựng áp dụng mô hình tối ưu hóa MARKAL/TIMES, phân tích kịch bản nhu cầu điện theo tốc độ tăng trưởng kinh tế. Viện Năng lượng tiến hành thu thập dữ liệu hiện trạng, dự báo nhu cầu, đánh giá tiềm năng các nguồn năng lượng sơ cấp. Quá trình lấy ý kiến rộng rãi các bộ ngành, địa phương, chuyên gia đảm bảo tính toàn diện và khoa học của quy hoạch.

II. Phân tích hiện trạng và thách thức ngành điện lực

Hệ thống điện Việt Nam giai đoạn 2011-2019 đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tổng công suất nguồn điện tăng trưởng mạnh, lưới điện quốc gia phủ rộng khắp vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên, ngành điện đối mặt nhiều thách thức lớn. Hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam năm 2016-2019 đạt 1,49 lần, gần gấp rưỡi Trung Quốc, cho thấy hiệu quả sử dụng điện còn thấp. Cấu trúc nguồn điện phụ thuộc lớn vào nhiệt điện than và khí, gây áp lực môi trường. Nguồn năng lượng tái tạo虽 phát triển nhanh nhưng thiếu ổn định do tính thời vụ. Năng lực truyền tải một số khu vực chưa đồng bộ với nguồn điện mới. Giá điện chưa phản ánh đầy đủ chi phí thực, ảnh hưởng khả năng thu hút đầu tư tư nhân. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng quy hoạch phát triển điện lực mới, phù hợp xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu.

2.1. Hiện trạng nguồn điện và hệ số đàn hồi năng lượng

Tính đến năm 2019, hệ thống điện Việt Nam có tổng công suất lắp đặt hơn 56 GW, trong đó nhiệt điện than chiếm tỷ trọng lớn nhất. Hệ số đàn hồi điện/GDP giai đoạn 2011-2015 đạt 1,84 lần, giảm xuống 1,49 lần giai đoạn 2016-2019. So sánh quốc tế, chỉ số này cao hơn hẳn Nhật Bản (0,52), Thái Lan (0,48), Singapore (0,38). Cường độ điện tiêu thụ trên GDP của Việt Nam năm 2017 gần gấp rưỡi Trung Quốc. Điều này phản ánh mô hình tăng trưởng sử dụng điện nhiều, hiệu quả năng lượng thấp cần cải thiện.

2.2. Các thách thức chính trong đảm bảo an ninh năng lượng

Thách thức lớn nhất là cân đối cung cầu điện khi nhu cầu tăng trưởng nhanh. Phụ thuộc nhập khẩu nhiên liệu sơ cấp (than, khí LNG) tạo rủi ro an ninh năng lượng. Năng lượng tái tạo tăng nhanh nhưng thiếu giải pháp lưu trữ và điều độ hiệu quả. Hệ thống lưới điện truyền tải một số khu vực quá tải, chưa theo kịp tiến độ đầu tư nguồn điện mới. Giá điện điều hành thấp hơn chi phí thực tế gây khó khăn huy động vốn. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nguồn thủy điện, đòi hỏi đa dạng hóa nguồn cung cấp điện.

III. Giải pháp và phương hướng phát triển điện lực 2021 2030

Đề án quy hoạch đặt ra chiến lược phát triển điện lực đa dạng, bền vững cho giai đoạn 2021-2030. Phương hướng chính là chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nguồn điện, tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo và giảm dần phụ thuộc vào nhiệt điện than. Phát triển điện khí LNG đóng vai trò nguồn điện nền linh hoạt. Đầu tư đồng bộ lưới điện truyền tải 500kV và 220kV đảm bảo truyền tải công suất từ các vùng nguồn về phụ tải lớn. Nâng cấp hệ thống phân phối điện đô thị và nông thôn. Áp dụng công nghệ lưới điện thông minh (smart grid) nâng cao hiệu quả vận hành. Đẩy mạnh chương trình điện khí hóa nông thôn, đưa điện đến vùng sâu vùng xa. Hoàn thiện cơ chế giá điện thị trường, khuyến khích đầu tư tư nhân. Xây dựng hệ thống điều độ hiện đại, ứng dụng công nghệ số trong quản lý hệ thống điện quốc gia.

3.1. Định hướng chuyển dịch cơ cấu nguồn điện quốc gia

Giai đoạn 2021-2030, quy hoạch ưu tiên phát triển mạnh năng lượng tái tạo gồm điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối. Tỷ trọng năng lượng tái tạo dự kiến tăng từ khoảng 10% lên 30% tổng công suất nguồn điện. Điện khí LNG được phát triển thay thế dần nhiệt điện than, đóng vai trò nguồn điện nền linh hoạt. Thủy điện tiếp tục khai thác hiệu quả các công trình hiện có, hạn chế xây dựng mới quy lớn. Điện hạt nhân được nghiên cứu cho giai đoạn sau 2030.

3.2. Chiến lược phát triển lưới điện và hệ thống phân phối

Phát triển lưới điện truyền tải 500kV mạch 3 kết nối liên vùng, đảm bảo truyền tải công suất từ các trung tâm năng lượng tái tạo. Nâng cấp lưới 220kV tại các tỉnh có phụ tải tăng nhanh. Đầu tư hệ thống phân phối điện đô thị áp dụng công nghệ GIS, cáp ngầm hóa. Chương trình điện khí hóa nông thôn mở rộng lưới điện quốc gia đến vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo. Xây dựng hệ thống lưới điện thông minh với công nghệ IoT, AI phục vụ giám sát và điều độ tự động.

IV. Kết luận và triển vọng ứng dụng quy hoạch điện lực

Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt nền tảng chiến lược cho ngành điện Việt Nam. Kết luận quan trọng nhất là cần chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu năng lượng, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Đề án xác định lộ trình rõ ràng từ phát triển nguồn điện, lưới điện đến hoàn thiện thể chế thị trường điện. Tầm nhìn 2045 hướng tới hệ thống điện hiện đại, thông minh, tích hợp cao tỷ trọng năng lượng tái tạo. Ứng dụng quy hoạch này sẽ đảm bảo an ninh cung cấp điện, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Chương trình đầu tư phát triển điện lực quốc gia dự kiến cần hàng trăm tỷ USD vốn đầu tư, đòi hỏi huy động đa dạng nguồn lực trong và ngoài nước. Hiệu quả kinh tế - xã hội của đề án thể hiện qua giảm phát thải khí nhà kính, tạo việc làm mới trong ngành năng lượng sạch, nâng cao đời sống nhân dân vùng nông thôn.

4.1. Tầm nhìn phát triển điện lực quốc gia đến năm 2045

Tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu hệ thống điện Việt Nam đạt trình độ tiên tiến khu vực ASEAN. Tổng công suất nguồn điện dự kiến đạt 125-135 GW, tỷ trọng năng lượng tái tạo chiếm trên 50%. Hệ thống lưới điện thông minh được triển khai toàn diện, giảm tổn thất điện năng xuống dưới 5%. Thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh hoạt động hiệu quả. Năng lực sản xuất thiết bị điện trong nước đáp ứng phần lớn nhu cầu nội địa. Việt Nam trở thành trung tâm năng lượng sạch của khu vực.

4.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và huy động vốn đầu tư

Chương trình đầu tư phát triển điện lực đến năm 2045 cần khoảng 12-15 nghìn tỷ USD. Cơ cấu vốn bao gồm ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp nhà nước, FDI và tư nhân trong nước. Hiệu quả kinh tế thể hiện qua đảm bảo cung cấp điện ổn định phục vụ tăng trưởng GDP 6,5-7%/năm. Tác động xã hội bao gồm tạo hàng triệu việc làm mới, giảm nghèo năng lượng nông thôn. Hiệu quả môi trường qua giảm phát thải CO2, đóng góp cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NĂNG LƯỢNG MÃ CÔNG TRÌNH: E-542 Báo cáo dự thảo Lần 3 ĐỀ ÁN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC QUỐC GIA THỜI KỲ 2021-2030 TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045 TẬP 1: THUYẾT MINH CHUNG Hà Nội, tháng 2/2021 BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NĂNG LƯỢNG MÃ CÔNG TRÌNH: E-542 ĐỀ ÁN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC QUỐC GIA THỜI KỲ 2021-2030 TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045 TẬP 1: THUYẾT MINH CHUNG BẢN QUYỀN Bản quyền đề án này thuộc Viện Năng lượng và Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương. Từng phần hay toàn bộ thông tin trong đề án không được sao chép, in ấn, dịch thuật hoặc sử dụng cho bất kỳ mục đích khác khi chưa có sự đồng ý của Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo bằng văn bản. Ghi rõ nguồn khi trích dẫn hoặc sử dụng lại các thông tin trong báo cáo. XÁC NHẬN Báo cáo này được thực hiện bởi Viện Năng Lượng, Bộ Công Thương LIÊN HỆ Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo Địa chỉ: Số 23 Ngô Quyền - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội Điện thoại: 04. 62786185 Website: http://www.vn Viện Năng Lượng Địa chỉ: Số 6, phố Tôn Thất Tùng, quận Đống Đa, TP Hà Nội, Việt Nam. Tel: (84-4) 3852 3353 – 3852 9310 – 3852 3730 Fax: (84-4) 3852 3311 – 3852 9302 Website: http://www.vn Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia Chương mở đầu thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 LỜI NÓI ĐẦU Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ trước tới nay luôn chú trọng phát triển ngành điện lực, luôn chủ trương điện phải đi trước một bước, làm nguồn động lực cho phát triển kinh tế − xã hội, cải thiện đời sống nhân dân và nâng cao tiềm lực an ninh quốc phòng. Trong Nghị quyết số 13/NQ-TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, ngày 16/01/2012 về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đã nêu: "Về hạ tầng cung cấp điện, bảo đảm cung cấp đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đi đôi với tiết kiệm, giảm tiêu hao điện năng". Nghị quyết số: 55-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 11/02/2020 về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đánh giá việc phát triển ngành năng lượng nói chung và phân ngành điện nói riêng như sau: “Cung cấp năng lượng, đặc biệt là cung cấp điện cơ bản đáp ứng đủ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện;…. Đầu tư xây dựng hạ tầng cung cấp điện có sự phát triển mạnh mẽ, là điều kiện quan trọng cho việc bảo đảm an ninh cung ứng điện. Đưa điện lưới quốc gia tới hầu hết mọi miền của đất nước, kể cả vùng sâu, vùng xa, biên cương, hải đảo”. Ngày 18/3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 428/ QĐ – TTg phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2011 – 2020, có xét đến năm 2030. Trải qua hơn 4 năm thực hiện, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng ngành điện về cơ bản đã đảm bảo cung cấp điện an toàn, tin cậy, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng của đất nước. Tới thời điểm hiện tại, đã có nhiều biến động lớn trong phát triển điện lực: Quốc hội đã quyết định dừng thực hiện nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận; Chính phủ đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ – TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam, và Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam, tạo ra sự bùng nổ đầu tư của các dự án điện mặt trời, điện gió (chủ yếu do các nhà đầu tư tư nhân thực hiện – là điểm mới so với trước đây khi hầu hết các dự án, công trình điện đều do các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đầu tư); sự chậm trễ và khó khăn trong đầu tư xây dựng các nhà máy nhiệt điện (đặc biệt là các nhà máy điện truyền thống); sự phát triển của công nghệ trong sản xuất và truyền tải điện (đặc biệt là công nghệ điện mặt trời, điện gió), dẫn tới khả năng giảm sâu giá thành sản xuất của loại hình nguồn điện này; sự xuất hiện của cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 có ảnh hưởng to lớn tới quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện… Những biến động này có tác động lớn tới tình hình phát triển điện lực của Việt Nam, vì vậy việc lập Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) là nhiệm vụ cấp bách và có tính thời sự cao. Viện Năng lượng 4 Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia Chương mở đầu thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 Trong tương lai, sự phát triển của ngành điện Việt Nam sẽ ngày càng gặp nhiều thách thức lớn hơn trong việc thoả mãn nhu cầu tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Có thể nêu ra một số thách thức lớn đối với ngành điện như sau: nhu cầu điện đang và còn tiếp tục tăng trưởng cao; nguồn năng lượng sơ cấp đang dần cạn kiệt và khả năng cung cấp nguồn năng lượng sơ cấp hạn chế, dẫn đến sớm phải nhập khẩu nhiên liệu; xây dựng nhiều nguồn điện không theo sát quy hoạch, phân bố trên vùng miền mất cân đối dẫn đến tăng thêm lượng điện truyền tải lãng phí, tổn thất truyền tải còn cao; sự phát triển mạnh mẽ của các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo như gió, mặt trời dẫn tới những khó khăn nhất định trong vận hành hệ thống điện, các yêu cầu ngày càng khắt khe hơn về bảo vệ môi trường trong hoạt động điện lực…… Để vượt qua các khó khăn, thách thức, đảm bảo cung cấp điện ổn định, tin cậy, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước, cần thiết phải xây dựng Quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia thời kỳ 2021 – 2030 tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII). Quy hoạch sẽ định hướng được tương lai phát triển của ngành điện; định lượng các giá trị mục tiêu cung cấp điện; xác định quy mô, tiến độ và phân bổ không gian của các công trình nguồn điện, lưới điện và đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch. Với bề dày kinh nghiệm thực hiện các quy hoạch điện trước đây và chuyên môn, hiểu biết sâu sắc về ngành điện Việt Nam, Viện Năng lượng đã được Bộ Công Thương tin tưởng giao trách nhiệm là đơn vị tư vấn lập Quy hoạch điện VIII. Quy hoạch điện VIII gồm 19 chương, bao trùm các vấn đề trong phát triển của ngành điện trong hiện tại và tương lai. Tại Quy hoạch điện VIII, Viện Năng lượng đã tập trung vào tính toán, phân tích, đánh giá sự phát triển của ngành điện lực trong kỳ quy hoạch trước, chỉ các tồn tại và bài học kinh nghiệm; tính toán, phân tích khả năng phát triển kinh tế xã hội và dự báo phụ tải điện; tính toán khả năng sử dụng năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện; tính toán chương trình phát triển nguồn điện, lưới điện; tính toán vốn đầu tư và phân tích kinh tế của chương trình phát triển điện lực; đề xuất các giải pháp và cơ chế để thực hiện quy hoạch. Báo cáo đánh giá Môi trường chiến lược của QHĐ VIII cũng được Viện Năng lượng lập song song và tương tác chặt chẽ với quá trình lập quy hoạch điện lực. Quy hoạch điện VIII được thực hiện trong bối cảnh một số quy hoạch nền tảng của quốc gia quy định tại Luật Quy hoạch năm 2017 chưa được lập như: Quy hoạch tổng thể quốc gia; Quy hoạch không gian biển quốc gia; Quy hoạch sử dụng đất quốc gia. , nên có một số yếu tố bất định gây khó khăn trong quá trình dự báo. Để đảm bảo chuẩn xác trong công tác dự báo, Viện Năng lượng đã phối hợp cùng với Viện Chiến lược Phát triển của Bộ Kế hoạch Đầu tư trong công tác dự báo phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và dự báo phụ tải điện. Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư là đơn vị hiện đang được giao thực hiện Quy hoạch Tổng thể quốc gia và cũng là đơn vị đang thực hiện dự thảo các văn kiện về phát triển kinh tế xã hội phục vụ Đại hội 13 Viện Năng lượng 5 Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia Chương mở đầu thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Đảng. Trong Quy hoạch điện VIII, dự báo nhu cầu tiêu thụ điện đã tính toán, phân tích, đánh giá đến các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng điện như: khả năng sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trong tương lai; khả năng thâm nhập của các phương tiện giao thông sử dụng điện năng; tác động của các chương trình Quản lý nhu cầu điện và Điều chỉnh phụ tải. Dự báo nhu cầu tiêu thụ điện đã cập nhật, đánh giá tác động của dịch COVID 19 tới tốc độ tăng trưởng kinh tế và qua đó đến nhu cầu sử dụng điện. Với sự cộng tác của Viện Chiến lược Phát triển và ứng dụng những phương pháp dự báo tiên tiến trên thế giới như mô hình TIMES, phương pháp Đa hồi quy, nhiệm vụ dự báo nhu cầu tiêu thụ điện đã được thực hiện khoa học và chuẩn xác. Chương trình phát triển nguồn điện của QHĐ VIII được thực hiện theo hàm mục tiêu cực tiểu hóa chi phí sản xuất điện, có xét tới các ràng buộc về truyền tải, về cung cấp nhiên liệu sơ cấp, về phân bố tiềm năng các nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời), về khả năng liên kết hệ thống điện với các nước láng giềng. Các công cụ tính toán nổi tiếng trên thế giới như mô hình quy hoạch Balmorel, mô hình quy hoạch Plexos đã được Cục Năng lượng Đan Mạch, tổ chức Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ thông qua Cục Điện lực và Năng lượng, Bộ Công Thương tái tạo trang bị cho Viện Năng lượng để tính toán cho QHĐ VIII. Có 11 kịch bản đã được đưa vào tính toán, xem xét, phân tích để lựa chọn kịch bản tối ưu trong phát triển nguồn điện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ