Đồ án: Thiết kế hệ thống chống sét và nối đất an toàn cho TBA 220/110kV

Đồ án kỹ thuật điện cao áp: Thiết kế hệ thống chống sét trực tiếp & nối đất an toàn cho trạm biến áp 220/110kV. Giải pháp bảo vệ hiệu quả, an toàn.

Trường đại học

Trường Đại Học Điện Lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án môn học

2022

42
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đồ án chống sét cho trạm biến áp 220 110kV

Đồ án môn học kỹ thuật điện cao áp với chủ đề thiết kế hệ thống chống sét và nối đất cho trạm biến áp 220/110kV là một nhiệm vụ cốt lõi, đảm bảo an toàn và ổn định cho lưới điện quốc gia. Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mật độ và cường độ dông sét cao, là một trong những mối đe dọa hàng đầu đối với các công trình điện lực. Sét đánh trực tiếp có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng như phá hủy thiết bị, gây ngắn mạch, cháy nổ và mất điện trên diện rộng. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng một hệ thống chống sét đánh trực tiếp cùng với một hệ thống nối đất an toàn hiệu quả là yêu cầu bắt buộc. Đồ án này tập trung vào việc tính toán, lựa chọn và bố trí các thiết bị bảo vệ như kim thu sét, dây thoát sét, và hệ thống tiếp địa dựa trên các thông số kỹ thuật cụ thể của trạm, đặc điểm địa chất và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn hiện hành như TCVN 9385:2012IEC 62305. Mục tiêu không chỉ là bảo vệ tài sản trị giá hàng trăm tỷ đồng mà còn là đảm bảo an ninh năng lượng và an toàn cho nhân viên vận hành. Nội dung thuyết minh đồ án chống sét này sẽ phân tích chi tiết các phương pháp tính toán, so sánh các phương án thiết kế để tìm ra giải pháp tối ưu nhất về cả kỹ thuật lẫn kinh tế. Đây là một tài liệu tham khảo quan trọng cho các kỹ sư và sinh viên chuyên ngành hệ thống điện, cung cấp cái nhìn sâu sắc vào việc ứng dụng lý thuyết kỹ thuật điện cao áp vào thực tiễn.

1.1. Hiện tượng dông sét và ảnh hưởng đến hệ thống điện

Dông sét là hiện tượng phóng điện trong khí quyển với dòng điện có biên độ lên tới hàng trăm kiloampe (kA), tạo ra nguồn quá áp khí quyển cực lớn. Khi sét đánh vào công trình điện, đặc biệt là các trạm biến áp, nó gây ra sóng quá áp lan truyền dọc theo đường dây và thiết bị. Hậu quả trực tiếp là phá hủy cách điện, gây phóng điện, ngắn mạch giữa các pha hoặc giữa pha với đất. Theo tài liệu nghiên cứu, sự cố do sét chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số sự cố trên lưới điện Việt Nam. Việc này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế do phải thay thế thiết bị đắt tiền mà còn có thể dẫn đến rã lưới, ảnh hưởng đến ổn định của toàn hệ thống. Do đó, bảo vệ quá áp khí quyển là một trong những ưu tiên hàng đầu trong thiết kế và vận hành lưới điện.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đồ án kỹ thuật điện cao áp

Nhiệm vụ chính của đồ án là thiết kế hai hệ thống trọng yếu. Thứ nhất là hệ thống bảo vệ chống sét đánh trực tiếp, sử dụng các kim thu sét để tạo ra một vùng không gian an toàn bao trùm toàn bộ các thiết bị ngoài trời của trạm biến áp. Thứ hai là thiết kế hệ thống nối đất an toàn và làm việc, có nhiệm vụ tản dòng điện sét khổng lồ xuống đất một cách nhanh chóng và an toàn. Hệ thống này phải đảm bảo điện áp bướcđiện áp tiếp xúc nằm trong giới hạn cho phép, bảo vệ con người khi có sự cố. Các tính toán phải dựa trên số liệu thực tế về mặt bằng trạm, chiều cao thiết bị, và đặc biệt là điện trở suất của đất tại khu vực xây dựng.

II. Thách thức kỹ thuật khi thiết kế hệ thống chống sét

Việc thiết kế một hệ thống bảo vệ toàn diện cho trạm biến áp 220/110kV đối mặt với nhiều thách thức kỹ thuật phức tạp. Yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất là tất cả các thiết bị cần bảo vệ phải nằm hoàn toàn trong phạm vi an toàn của hệ thống thu sét. Việc xác định phạm vi này đòi hỏi các phép tính toán chính xác dựa trên các lý thuyết đã được kiểm chứng như phương pháp góc bảo vệ hoặc phương pháp quả cầu lăn, được quy định trong tiêu chuẩn IEC 62305. Một thách thức khác là tối ưu hóa giữa chi phí đầu tư và hiệu quả bảo vệ. Sử dụng quá nhiều cột thu sét hoặc cột quá cao sẽ làm tăng chi phí xây dựng không cần thiết, trong khi số lượng không đủ hoặc chiều cao không đạt chuẩn sẽ để lại những 'lỗ hổng' bảo vệ, tiềm ẩn rủi ro. Ngoài ra, việc lựa chọn vị trí đặt cột thu lôi cũng là một bài toán khó. Đặt cột trên kết cấu của trạm giúp tiết kiệm chi phí nhưng phải đảm bảo khoảng cách an toàn để tránh phóng điện ngược từ hệ thống thu sét sang các phần tử mang điện. Điều này đòi hỏi mức cách điện của trạm phải đủ lớn và giá trị điện trở nối đất phải cực nhỏ. Cuối cùng, điện trở suất của đất là một yếu tố biến thiên, phụ thuộc vào mùa và độ ẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hệ thống nối đất. Do đó, việc tính toán cần sử dụng hệ số mùa để đảm bảo hệ thống hoạt động tin cậy trong mọi điều kiện thời tiết, đảm bảo an toàn điện trong trạm biến áp.

2.1. Yêu cầu kỹ thuật theo tiêu chuẩn TCVN 9385 2012

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9385:2012 (tương đương một phần với bộ tiêu chuẩn IEC 62305) đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt cho việc thiết kế và lắp đặt hệ thống chống sét. Các yêu cầu chính bao gồm: lựa chọn cấp bảo vệ chống sét phù hợp với tính chất và tầm quan trọng của công trình; quy định về vật liệu, kích thước tối thiểu của kim thu sétdây thoát sét để đảm bảo độ bền cơ học và khả năng chịu dòng sét; yêu cầu về liên kết và bố trí hệ thống tiếp địa để giảm thiểu chênh lệch điện thế nguy hiểm. Việc tuân thủ tiêu chuẩn này là bắt buộc để đảm bảo hệ thống được thiết kế đúng kỹ thuật và an toàn.

2.2. Khó khăn trong việc xác định điện trở suất của đất

Giá trị điện trở suất của đất (ρ) là thông số đầu vào quan trọng nhất để tính toán điện trở nối đất. Tuy nhiên, đất là một môi trường không đồng nhất và giá trị này thay đổi đáng kể theo vị trí, độ sâu, độ ẩm và nhiệt độ. Các phép đo tại hiện trường chỉ cung cấp giá trị tức thời. Để thiết kế một hệ thống bền vững, kỹ sư phải sử dụng hệ số mùa (Kmùa) để hiệu chỉnh, tính toán cho trường hợp bất lợi nhất (đất khô). Ví dụ, theo tài liệu gốc, với thanh ngang chôn sâu 0.8m trong đất khô, hệ số mùa có thể lên tới 1.6. Việc lựa chọn sai hệ số này có thể dẫn đến một hệ thống nối đất không đạt yêu cầu về trị số điện trở cho phép, đặc biệt trong mùa khô.

III. Phương pháp thiết kế hệ thống chống sét đánh trực tiếp

Để bảo vệ trạm biến áp 220/110kV khỏi sét đánh trực tiếp, phương pháp phổ biến và hiệu quả nhất là sử dụng hệ thống cột thu lôi (kim thu sét) độc lập hoặc gắn trên kết cấu có sẵn. Nguyên tắc của hệ thống này là tạo ra một vùng không gian được che chắn an toàn, nơi xác suất sét đánh vào các thiết bị bên trong là cực kỳ thấp. Việc tính toán chiều cao và vị trí các kim thu sét dựa trên lý thuyết về phạm vi bảo vệ. Đồ án này đã xem xét và so sánh hai phương án bố trí cột thu lôi khác nhau để tìm ra giải pháp tối ưu. Phương án 1 sử dụng 42 cột và phương án 2 sử dụng 31 cột. Cả hai phương án đều được tính toán để đảm bảo tất cả các xà đón dây và xà thanh góp phía 220kV (cao 16.4m) và 110kV (cao 10.4m) đều nằm trong vùng bảo vệ. Các công thức tính toán bán kính bảo vệ (rx) và độ cao được bảo vệ (h0) giữa hai cột được áp dụng triệt để. Ví dụ, độ cao lớn nhất được bảo vệ giữa hai cột bằng nhau được xác định bởi công thức h0 = h - a/7 (với h là chiều cao cột và a là khoảng cách giữa hai cột). Sau khi phân tích, phương án 2 được lựa chọn vì có tổng chiều dài kim thu sét ít hơn (276,6m so với 349,2m), giúp tiết kiệm chi phí vật liệu và thi công mà vẫn đảm bảo đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật. Các bản vẽ hệ thống chống sét chi tiết cho phương án được chọn sẽ thể hiện rõ vị trí lắp đặt và phạm vi bảo vệ.

3.1. Lý thuyết tính toán phạm vi bảo vệ của kim thu sét

Lý thuyết cơ bản để xác định phạm vi bảo vệ của một hay nhiều kim thu sét là nền tảng của mọi thiết kế. Đối với một cột thu lôi đơn, phạm vi bảo vệ ở độ cao hx là một hình nón có bán kính rx. Khi sử dụng nhiều cột, phạm vi bảo vệ là phần giao thoa phức tạp giữa các vùng bảo vệ riêng lẻ. Đồ án sử dụng phương pháp tính toán phạm vi bảo vệ theo đường sinh gãy khúc, một phương pháp phổ biến trong các tài liệu kỹ thuật điện cao áp. Điều kiện quan trọng cần kiểm tra là đối với các vật nằm trong đa giác tạo bởi các cột thu lôi, đường kính D của đường tròn ngoại tiếp đa giác phải thỏa mãn điều kiện D ≤ 8(h-hx), đảm bảo an toàn cho các thiết bị ở trung tâm.

3.2. So sánh và lựa chọn phương án bố trí cột thu lôi tối ưu

Việc lựa chọn phương án tối ưu không chỉ dựa trên yếu tố kỹ thuật mà còn phải xét đến tính kinh tế. Đồ án đã trình bày chi tiết hai phương án: Phương án 1 (42 cột) và Phương án 2 (31 cột). Cả hai đều được tính toán kỹ lưỡng để đáp ứng yêu cầu bảo vệ. Tuy nhiên, khi so sánh, Phương án 2 nổi bật với số lượng cột ít hơn và tổng chiều dài kim thu sét cần sử dụng thấp hơn đáng kể. Cụ thể, tổng chiều dài kim của Phương án 2 là 276,6 mét, trong khi Phương án 1 là 349,2 mét. Sự chênh lệch này dẫn đến việc tiết kiệm chi phí vật tư, nhân công lắp đặt và bảo trì sau này. Do đó, Phương án 2 được đề xuất để thi công, minh chứng cho việc tối ưu hóa thiết kế là một bước quan trọng trong một luận văn kỹ thuật điện cao áp.

IV. Hướng dẫn thiết kế hệ thống nối đất an toàn cho TBA

Hệ thống nối đất là bộ phận không thể thiếu, có nhiệm vụ tản dòng điện sét và dòng sự cố chạm đất xuống đất một cách nhanh chóng và an toàn. Đối với trạm 220/110kV, mạng điện có trung tính nối đất trực tiếp, quy phạm yêu cầu điện trở nối đất của toàn hệ thống phải nhỏ hơn 0,5 Ω. Thiết kế tiếp địa trạm biến áp bao gồm hai thành phần chính: nối đất tự nhiên và nối đất nhân tạo. Nối đất tự nhiên tận dụng hệ thống dây chống sét và các cột điện của các đường dây đến trạm. Đồ án đã tính toán và cho thấy điện trở nối đất tự nhiên của toàn trạm (bao gồm 5 lộ 220kV và 10 lộ 110kV) là R_TN = 0,17 Ω. Để tăng cường an toàn và đảm bảo giá trị điện trở luôn đạt yêu cầu, một hệ thống nối đất nhân tạo được thiết kế thêm. Hệ thống này là một mạch vòng khép kín bằng thép góc 50x50x5mm, chôn sâu 0,8m quanh chu vi trạm. Việc tính toán điện trở nối đất cho mạch vòng này dựa trên công thức phụ thuộc vào chu vi mạch vòng (L), đường kính tương đương của cọc (d), độ sâu chôn (t) và điện trở suất của đất đã hiệu chỉnh theo mùa (ρtt). Kết quả tính toán cho thấy điện trở của mạch vòng nhân tạo là R_NT = 0,70 Ω. Khi kết hợp song song cả hai hệ thống, điện trở nối đất tổng của trạm là 0,14 Ω, hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu R_HT < 0,5 Ω.

4.1. Phân loại và vai trò của các hệ thống nối đất

Trong hệ thống điện, có ba loại nối đất chính: nối đất làm việc, nối đất an toàn và nối đất chống sét. Nối đất làm việc đảm bảo chế độ vận hành bình thường cho thiết bị, ví dụ như nối đất điểm trung tính máy biến áp. Nối đất an toàn bảo vệ con người bằng cách nối đất các bộ phận kim loại không mang điện (vỏ máy, giá đỡ). Nối đất chống sét dùng để tản dòng sét. Tại các trạm biến áp lớn, các hệ thống này thường được liên kết với nhau thành một hệ thống nối đất chung để đảm bảo đẳng thế và nâng cao hiệu quả tản dòng, đồng thời giảm thiểu điện áp bướcđiện áp tiếp xúc nguy hiểm.

4.2. Trình tự tính toán điện trở nối đất tự nhiên và nhân tạo

Quy trình tính toán bắt đầu bằng việc xác định điện trở nối đất tự nhiên, chủ yếu từ các đường dây truyền tải. Công thức tính toán phụ thuộc vào số lộ đường dây (n), điện trở dây chống sét trên một khoảng vượt (Rcs), và điện trở nối đất của cột điện (Rc). Sau đó, dựa vào yêu cầu điện trở tổng, người thiết kế sẽ tính toán và bổ sung hệ thống nối đất nhân tạo, thường là một bãi cọc tiếp địa hoặc mạch vòng. Các thông số như loại cọc, chiều dài, độ sâu chôn, khoảng cách giữa các cọc tiếp địa đều được tính toán cẩn thận. Việc sử dụng phần mềm tính toán chống sét hiện đại có thể hỗ trợ mô phỏng và tối ưu hóa cấu hình lưới tiếp địa này một cách hiệu quả.

4.3. Đảm bảo an toàn điện qua kiểm soát điện áp bước và tiếp xúc

Một hệ thống nối đất tốt không chỉ có điện trở nhỏ mà còn phải đảm bảo an toàn điện trong trạm biến áp cho người vận hành. Khi có dòng điện lớn tản xuống đất, một điện thế sẽ phân bố trên bề mặt đất. Sự chênh lệch điện thế giữa hai chân người (điện áp bước) hoặc giữa tay người chạm vào thiết bị và chân (điện áp tiếp xúc) có thể gây chết người. Việc thiết kế lưới nối đất nhân tạo dạng mạch vòng hoặc lưới ô vuông giúp san bằng điện thế trên bề mặt, giữ cho điện áp bướcđiện áp tiếp xúc luôn nằm trong ngưỡng an toàn theo quy định. Đây là một trong những yêu cầu kỹ thuật quan trọng nhất của hệ thống nối đất.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: HIEN TUQNG DONG SET VA ANH HUONG CUA NO DEN HE THONG DIEN VIET NAM 1. Hiện tượng dông sét 1. Khái niệm chung Dông sét là một hiện tượng của thiên nhiên, đó là sự phóng tia lửa điện khi khoảng cách giữa các điện cực khá lớn (trung bình khoảng 5km). Hiện tượng phóng điện của dông sét gồm hai loại chính đó là phóng điện giữa các đám mây tích điện vả phóng điện giữa các đám mây tích điện với mặt đất.

Ở đây ta chỉ nghiên cứu phỏng điện giữa các đám mây tích điện với mặt đất (phóng điện mây-đất). Vì hiện tượng phóng điện này gây ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống điện. Các đám mây được tích điện với mật độ điện tích lớn, có thé tao ra cường độ điện trường lớn sẽ hình thành dòng phát triển về phía mặt đất. Giai đoạn nảy là giai đoạn phóng điện tiên đạo.

Tốc độ di chuyên trung bình của tỉa tiên đạo của lần phóng điện đầu tiên khoảng I,5.Ifcm/s, các lần phóng điện sau thi tốc độ tăng lên khoảng 2. Tia tién đạo là môi trường Plasma có điện tích rất lớn. Đầu tia được nối với một trong các trung tâm điện tích của đám mây nên một phần điện tích của trung tâm này đi vào trong tia tiên đạo. Phần điện tích này được phân bế khá đều đọc theo chiều dải tỉa xuống mặt đất.

Dưới tác dụng của điện trường của tỉa tiên đạo, sẽ có sự tập trung điện tích khác dấu trên mặt đất mà địa điểm tập kết tùy thuộc vào tình hình dẫn điện của đất. Nếu vùng đất có điện dẫn đồng nhất thì điểm nảy nằm ngay ở phía đưới đầu tỉa tiên đạo. Còn nêu vùng đất có điện dẫn không đồng nhất (có nhiều nơi có điện dẫn khác nhau) thì điện tích trong đất sẽ tập trung về nơi có điện dẫn cao.Quá trình phóng điện sẽ phát triển đọc theo đường sức nôi liền giữa đầu tỉa tiên đạo với nơi tập trung điện tích trên mặt đất và như vậy địa điểm sét đánh trên mặt đất đã được định sẵn. Do vậy để định hướng cho các phóng điện sét thì ta phải tạo ra nơi có mật độ tập trung điện diện tích lớn.

Nên việc bảo vệ chống sét đánh trực tiếp cho các công trình được dựa trên tính chọn lọc này của phóng điện sét. Đề án môn học Kỹ thuật điện cao áp Nêu toc độ phát triên của phóng điện ngược là n và mật độ điện trường của điện tích trong tỉa tiên đạo là d thi trong một đơn vị thời gian thì điện tích đi và trong đất sẽ la:is=n. Công thức nảy tính toán cho trường hợp sét đánh vào nơi có nối đất tốt (có trị số điện trở nhỏ không đáng kê). Tham số chủ yếu của phóng điện sét là đòng điện sét, dòng điện này có biên độ và độ đốc phân bố theo hảm biến thiên trong phạm vi rộng (từ vải kA đến vài trăm kA) dạng sóng của dòng điện sét là dạng sóng xung kích, chỗ tăng vọt của sét ứng với giai đoạn phóng điện ngược.

Khi sét đánh thẳng vào thiết bị phân phối trong trạm sẽ gây quá điện áp khí quyền và gây hậu quả nghiêm trọng như: Ngắn mạch đầu thanh góp, cháy nô, mất điện trên diện rộng. Tỉnh hình dông sét ở Việt Nam Việt Nam là một trong những nước khí hậu nhiệt đới, có cường độ dông sét khá mạnh. Theo tải liệu thống kê cho thấy trên mỗi miền đất nước Việt nam có một đặc điểm đông sét khác nhau. Ở miễn Bắc, số ngày đông dao động từ 70+l 10 ngày trong một năm vả số lần dông từ 150+300 lần như vậy trung bình một ngảy có thê xảy ra từ 2:3 cơn đông.

Vùng dông nhiều nhất trên miền Bắc là Móng Cái. Tại đây hàng năm có từ 250300 lần dông tập trung trong khoáng 100+110 ngày. Tháng nhiều dông nhất là các tháng 7, tháng 8. Một số vùng có địa hình thuận lợi thường là khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng, số trường hợp đông cũng lên tới 200 lần, số ngảy đông lên đến 100 ngảy trong một năm.

Các vùng còn lại có từ 150+200 cơn dông mỗi năm, tập trung trong khoảng 90100 ngày. Nơi ít đông nhất trên miền Bắc 14 ving Quang Binh hang năm chỉ có dưới 80 ngày dông. Đề án môn học Kỹ thuật điện cao áp Bảng I. Số ngày dông trên các tháng ở một số vùng trên lãnh thổ Việt Nam Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 II !2 Cảnăm Địa điểm CaoBảng 0,2 06 42 59 12 I7 20 19 I0 II 05 00 94 MỏóngCái 00 04 39 66 14 19 24 24 13 42 02 0,0 112 HaGiang 0,1 0,6 5,1 84 15 17 22 20 92 28 0,9 0,0 102 Yén Bai 0.2 06 4,1 91 15 17 21 20 Il 42 02 0,0 104 Tuyén Quang 02 0,0 40 92 15 17 22 21 Il 42 0,5 0,0 106 Hà Nội 00 03 29 79 l6 l6 20 20 II 3,1 06 0,9 99 HaiPhong 0,0 0,1 7,0 7,0 13 19 21 23 17 44 10 0,0 111 Thanh Hoa 00 02 73 73 16 16 18 18 13 3,3 0,7 0,0 100 Hué 00 02 19 49 10 62 53 5,1 48 2,3 03 0,0 41,8 Da Nang 0,0 03 2,5 65 14 II 93 12 89 3,7 05 0,0 69,5 Quang Ngai 0,0 0,3 12 57 10 13 97 1,0 7,8 0,7 0,0 0,0 59,1 Sai Gon 14 1,0 2,5 10 22 19 17 16 19 l§ II 2,4 138 Sóc Trăng 0,2 0,0 07 7,0 19 16 14 15 I3 l5 47 0,7 104 Ha Tién 27 13 10 20 23 97 74 90 97 15 15 43 128 Xét dang dién bién cua déng trong nam, ta cé thé nhận thấy mùa đông không hoàn toàn đồng nhất giữa các vùng.

Nhìn chung, ở Bắc Bộ mùa dông tập chung trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 9. Phía Nam duyên hái Trung Bộ (từ Bình Định trở vao) là khu vực ít dông nhất, thường chỉ có trong tháng 5 số ngày dông khoảng 10 ngày/“háng như Tuy Hoa 10 ngay/thang, Nha Trang 8 ngay/thang, Phan Thiét 13 ngay/thang. O mién Nam khu vực nhiều đông nhất ở đồng bằng Nam Bộ từ 120+140 ngày/năm, như ở thành phố Hồ Chí Minh 138 ngảy/năm, Hà Tiên 129 ngày/năm. Từ bảng trên ta thấy Việt Nam là nước phái chịu nhiều ảnh hưởng của đông sét, đây là điều bất lợi cho hệ thống điện Việt nam, đòi hỏi ngành điện phải đầu tư nhiều vào các thiết bị chống sét.

Đặc biệt hơn nữa nó đòi hỏi các nhà thiết kế phải chủ trọng khi tính toán thiết kế các công trình điện sao cho hệ thống điện vận hành kinh tế, hiệu quả, đảm bảo cung cấp điện liên tục và tin cậy. Đề án môn học Kỹ thuật điện cao áp 1. Ảnh hướng của hiện tượng dông sét tới hệ thống điện Việt Nam Như đã trình bay ở phan trước, biên độ dòng sét có thê đạt tới hàng tram kA, day 14 nguôn sinh nhiệt vô cùng lớn khi dòng điện sét di qua vật nào đó. Thực tế đã có dây tiếp địa do phần nói đất không tốt, khi bị dòng điện sét tác dụng đã bị nóng chảy và đứt, thậm chí có những cách điện bằng sứ khi bị dòng điện sét tác dụng đã bị vỡ và chảy ra như nhũ thạch, phóng điện sét còn kèm theo việc di chuyên trong không gian lượng điện tích lớn, do đó tạo ra điện từ trường rất mạnh, đây là nguôn gây nhiễu loạn vỗ tuyến và các thiết bị điện tử, ảnh hưởng của nó rất rộng, ở cả những nơi cách xa hang tram km.

Khi sét đánh thăng vào đường dây hoặc xuống mặt đất gần đường dây sẽ sinh ra sóng điện tử truyền theo dọc đường dây, gây nên quá điện áp tác dụng lên cách điện của đường dây. Khi cách điện của đường dây bị phá hỏng sẽ gây nên ngắn mạch pha-đất hoặc ngắn mạch pha-pha buộc các thiết bị bảo vệ đầu đường dây phải làm việc. Với những đường dây truyễn tải công suất lớn, khi máy cắt nhảy có thể gây mắt ổn định cho hệ thông, nếu hệ thống tự động ở các nhà máy điện làm việc không nhanh có thể dẫn đến rã lưới. Sóng sét còn có thé truyền từ đường dây vảo trạm biến áp hoặc sét đánh thăng vào trạm biến áp đều gây nên phóng điện trên cách điện của trạm biến áp, điều này rất nguy hiểm vì nó tương đương với việc ngắn mạch trên thanh góp và dẫn đến sự có trầm trọng.

Mặt khác, khi có phóng điện sét vào trạm biến áp, nếu chống sét van ở đầu cực máy biến áp làm việc không hiệu quá thì cách điện của máy biên áp bị chọc thủng gây thiệt hại vô cùng lớn. Qua đó ta thấy rằng sự cô do sét gây ra rất lớn, nó chiếm chủ yếu trong sự cố lưới điện, vì vậy đông sét là mối nguy hiểm lớn nhất đe doạ hoạt động của lưới điện. Kết luận Sau khi nghiên cửu tỉnh hình dông sét ở Việt Nam và ảnh hưởng của dông sét tới hoạt động của lưới điện. Ta thay rang việc tính toán chống sét cho lưới điện và trạm biến áp là rất cần thiết để nâng cao độ tỉn cậy trong vận hành lưới điện.

Đề án môn học Kỹ thuật điện cao áp CHƯƠNG 2. BẢO VỆ CHÓNG SÉT ĐÁNH TRỰC TIẾP VÀO TRẠM BIẾN ÁP 220/110kV 2. Khái niệm chung Đối với trạm biến áp 220 kV thì với các thiết bị đặt ngoài trời, khi có sét đánh trực tiếp vào trạm sẽ xảy ra những hậu quả nghiêm trọng, làm hư hỏng các thiết bị điện, có thê phải ngừng cung cấp điện năng trong một thời gian dai làm ảnh hưởng đến sản xuất và gây ra những chỉ phí tốn kém cho ngành điện, ảnh hưởng đến nên kinh tế quốc dân. Do vậy, trạm biến áp thường có yêu câu bảo vệ khá cao.

Hiện nay để bảo vệ chống sét đánh trực tiếp cho trạm biến áp người ta thường dùng hệ thống cột thụ lôi, dây thu lôi. Tác dụng của hệ thông nảy là tập trung điện tích dé định hướng cho các phóng điện sét tập trung vào đó, tạo ra các khu vực an toàn bên dưới hệ thống nảy. Hệ thống thụ sét phải gồm các dây tiếp địa để dẫn dòng sét từ kim thu sét vào hệ thống nối đất. Đề nâng cao tác dụng của hệ thông nảy thì wi s6 điện trở nối đất của bộ phận thu sét phải nhỏ để tản đòng điện sét một cách nhanh nhất, đảm bảo sao cho khi dòng điện sét đi qua thì điện áp trên bộ phận thụ sét sẽ không đủ lớn để gây phóng điện ngược đến các thiết bị khác gần đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ