Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Bao quát nội dung bài nghiên cứu gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Trình bày các lý thuyết của định giá giá trị doanh nghiệp Chương 3: Quy trình định giá doanh nghiệp. Chương 4: Định giá doanh nghiệp Casumina Chương 5: Kết luận chung 4 CHƯƠNG 2. LÝ THUYẾT ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 1.
Định giá doanh nghiệp Các khái niệm định giá doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.1 Doanh nghiệp là một tổ chức thương mại, công nghiệp, dịch vụ hay đầu tư đang theo đuổi một hoạt động kinh tế. Doanh nghiệp thường là các đơn vị tạo ra lợi nhuận bằng cách cung cấp sản phầm hay dịch vụ cho người tiêu dùng. Quan hệ chặt chẽ với khái niệm doanh nghiệp là thuật ngữ công ty đang hoạt động, đó là một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh tế như chế tạo, buôn bán, hay trao đổi một hàng hóa hay dịch vụ, và thuật ngữ đang hoạt động, đó là một doanh nghiệp được xem như đang tiếp tục hoạt động trong tương lai xác định, không có ý định hoặc cần thiết phải thanh lý hay cắt giảm quy mô hoạt động của nó.2 Doanh nghiệp kinh doanh được thành lập như một pháp nhân. Doanh nghiệp có thể là doanh nghiệp không hợp nhất hoặc hợp nhất.
(1) Điển hình của những doanh nghiệp không hợp nhất bao gồm công ty tư nhân, liên doanh, và hợp danh, trách nhiệm vô hạn và hữu hạn; (2) Điển hình của những doanh nghiệp hợp nhất bao gồm công ty cổ phần hạn chế và công ty cổ phần công chúng (phát hành rộng rãi), mà mỗi cổ phiếu của nó được phát hành ra và do công chúng nắm giữ.3 Giá trị doanh nghiệp theo sổ sách kế toán: là tổng giá trị tài sản thể hiện trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành. 1 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 khóa XI, ký họp thứ 8 do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 2 Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế 2005, trang 63, 64 3 Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế 2005, trang 64 5 Giá trị thực tế của doanh nghiệp: là giá trị tăng thêm do các yếu tố lợi thế tạo ra như vị trí địa lý, thương hiệu, thị trường và thị phần trong nước cũng như nước ngoài,… của doanh nghiệp. Giá trị hoạt động liên tục: là giá trị của một doanh nghiệp, hay một lợi ích trong đó được xem xét theo giả thiết doanh nghiệp sẽ còn hoạt động liên tục. Thẩm định giá trị doanh nghiệp: “Thẩm định giá trị doanh nghiệp là việc ước tính giá trị của doanh nghiệp hay lợi ích của nó theo một mục đích bằng cách sử dụng các phương pháp thẩm định giá phù hợp” Mục đích định giá doanh nghiệp Mua bán sáp nhập, liên doanh, liên kết, đầu tư góp vốn, chia nhỏ, giải thể, thanh lý, cổ phần hóa.
Mua bán, sáp, liên doanh, liên kế, đầu tư góp vốn, chia nhỏ, giải thể, thanh lý, cổ phần hóa là các giao dịch có tính chất thường xuyên và phổ biến trong cơ chế thị trường, thể hiện nhu cầu đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, tài trợ phát triển, tăng cường khả năng cạnh tranh và được tiến hành trên cơ sở giá trị doanh nghiệp đã được xác định và đánh giá. Ra quyết định kinh doanh và tài chính Giá trị doanh nghiệp phản ánh năng lực tổng hợp, khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, là căn cứ quan trọng trong quá trình phân tích, đánh giá trước khi đưa ra quyết định, các giải pháp cải tiến quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và tài chính. Đánh giá uy tín kinh doanh, khả năng tài chính và tín dụng Các quyết định đầu tư, tài trợ hoặc tiếp tục tài trợ tín dungjcho doanh nghiệp có thể được đưa vào các thông tin về giá trị doanh nghiệp, đã được đánh giá về uy tín kinh doanh, khả năng tài chính về vị thế tín dụng. Kết quả định giá doanh nghiệp là cơ sở cho các tổ chức, cá nhân và công chúng đầu tư ra quyết định đầu tư vào các loại chứng khoán do doanh nghiệp phát hành trên thị trường tài chính.
6 Quản lý vĩ mô Thông tin về giá trị doanh nghiệp là một căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức quản lý và kinh doanh chứng khoán đánh giá tính ổn định của thị trường, nhận dạng các hiện tượng đầu cơ hoặc thao túng thị trường, quyền kiểm soát doanh nghiệp để từ đó có thể đưa ra các chính sách, biện pháp điều tiết thị trường một cách hợp lý, bình đẳng và phù hợp với các quy định của pháp luật. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp Môi trường bên trong Môi trường kinh tế: Hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn chặt với mô trường kinh tế, như tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá cả, tỷ giá hối đoái, tỷ suất đầu tư, chỉ số chứng khoán, lãi suất và những yếu tố khác. Nền kinh tế phát triển thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng, chỉ số chứng khoán, lãi suất và những yếu tố khác. Nền kinh tế phát triển, thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng, chỉ số chứng khoán thể hiện đúng quan hệ cung cầu, tỷ giá và lãi suất kích thích đầu tư sẽ trở thành những cơ hội phát triển và mở rộng doanh nghiệp, nâng cao giá trị doanh nghiệp.
Ngược lại, suy thoái kinh tế, giá chứng khoán ảo, lạm phát tăng cao làm lung lay và khống chế các cơ hội phát triển doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp sẽ bị xuống thấp. Mô trường chính trị: Môi trường chính trị ổn định là tiền đề cho sự ổn định và an toàn xã hội, là cơ sở cho sự ổn định và phát triển các nhu cầu đầu tư đối với các doanh nghiệp. Môi trường văn hóa – xã hội: Hoạt động của doanh nghiệp nhằm đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao trong đời sống vật chất và tinh thần của xã hội và cộng đồng. Sự hình thành các bức xúc của môi trường văn hóa – xã hội sẽ thúc đẩy sự quan tâm, đáp ứng bằng chính sự phát triển từ phía các doanh nghiệp.
Môi trường văn hóa – xã hội tác động trực tiếp đến sản xuất kinh doanh, bao gồm: - Lối sống, quan niệm về văn minh, tập quán sinh hoạt và tiêu dùng 7 - Số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi, mật độ, gia tăng dân số, mức thu nhập. - Sự ô nhiễm môi trường, sự cạn kiệt tài nguyên Môi trường văn hóa – xã hội: Bằng chứng của sự phát triển khoa học – công nghệ là sản phẩm được nâng cao chất lượng, đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao trong đời sống. Bước phát triển của khoa học – công nghệ không chỉ là cơ hội mà còn là sự thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Quan hệ với khách hàng: Quan hệ khách hàng tốt sẽ góp phần vào sự phát triển và thành công của doanh nghiệp.
Các nhân tố làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp trong quan hệ khách hàng. - Sự trung thành và thái độ khách hàng; - Số lượng và chất lượng khách hàng; - Uy tín và mối quan hệ tốt và khả năng phát triển các mối quan hệ; - Sự phát triển các thị phần; - Tốc độ tiến triển của doanh số bán. Quan hệ với nhà cung cấp: Sự ổn định các nguồn cung cấp được thể hiện qua các quan hệ với nhà cung cấp, góp phần đảm bảo cho các yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các quan hệ với nhà cung cấp ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp thông qua: - Sự phong phú của các nguồn cung cấp; - Số lượng, chủng loại các nguyên liệu có thể thay thế cho nhau; - Khả năng đáp ứng kịp thời, lâu dài; - Chất lượng đảm bảo đúng các yêu cầu của doanh nghiệp, số lần hoàn trả các nguyên liệu kém chất lượng ít hoặc giảm nhanh qua các lần cung cấp.
- Giá cả hợp lý và có khả năng cạnh tranh đối với các nhà cung cấp khác nhau. 8 Sự cạnh tranh: Sự cạnh tranh được đánh giá và xem xét trên 3 phạm vi: mức độ cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và đối thủ cạnh tranh. Quan hệ với các cơ quan Nhà nước: Cơ quan Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, bảo đảm cho hoạt động doanh nghiệp nằm trong khuôn khổ luật định. Bên cạnh đó là nghĩa vụ của doanh nghiệp như: nộp thuế đúng và đầy đủ, chấp hành tốt các quy định về lao động, bảo hiểm xã hội đều là những biểu hiện lành mạnh và có tiềm lực về tài chính của doanh nghiệp Môi trường bên trong Hiện trạng tài sản: Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ thuật của tài sản là nhân tố quyết định đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá trị tài sản của doanh nghiệp là cơ sở đảm bảo tối thiểu cho giá trị doanh nghiệp. Ít nhất cũng có thể bán đi các tài sản doanh nghiệp, đó chính là thu nhập tối thiểu mà doanh nghiệp có thể đạt được. Vị trí kinh doanh: Vị trí kinh doanh đặc trưng bởi những yếu tố về địa điểm, địa hình, diện tích, phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp và các chi nhánh trực thuộc. Ở những vị trí thuận lợi, doanh nghiệp sản xuất giảm thiểu được các chi phí vận chuyển, bảo quản, dễ dàng tiếp cận và nắm bắt nhanh chóng các nhu cầu cần thiết, thị hiếu, các thông tin truyền thông cần thiết phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất và thương mại.
Tuy nhiên, đi kèm với các vị trí thuận lợi là các chi phí thuê văn phòng giao dịch, thuê lao động và các chi phí về môi trường cũng cao hơn và khắt khe hơn. Dòng tiền tự do vốn cố phần Dòng tiền tự do vốn cổ phần (Free Cash Flow to Equity) Dòng tiền tự do vốn cổ phần (FCFE): đó là những dòng tiền còn lại sau khi đã hoàn thành mọi nghĩa vụ tài chính (bao gồm các khoản thanh toán nợ vay) và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu vốn đầu tư và vốn luân chuyển.