Đặt vấn đề Cây quế (Cinnamomum cassia) thuộc họ Long não (Lauraceae) là cây đa tác dụng, cây có thể cao 18 - 20m, đường kính đạt 10 - 45cm. Quế là cây phân bố rộng, có thể sinh trưởng tốt cả ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Quế thích hợp với vùng núi cao, độ cao địa Hình ở đai cao từ 300 – 700m so với mặt biển. Vùng có khí hậu mát ẩm, nhiệt độ bình quân năm từ 22 – 240C, lượng mưa bình quân năm trên 2000mm, độ ẩm không khí trên 80%.
Quế có thể trồng trên nhiều loại đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, tầng đất dày, ẩm độ đất cao thoát nước tốt ( Hoàng Cầu, 1993 ) [5]. Giá trị kinh tế cây quế khá cao và ổn định. Giá vỏ quế khô khoảng 35.000 đồng/kg; lá quế 1.500 đồng/kg; gỗ quế khoảng trên 1 triệu đồng/m3(Tất Đạt, 2017) [14]. Có đầu ra xuất khẩu ổn định ngoài ra cây Quế chống xói mòn, bảo vệ đất tốt nên diện tích rừng Quế ở một số tỉnh có trồng Quế tập trung tăng lên.
Theo Kế Toại (31/10/2017)[7], cho biết thông tin từ chi cục Kiểm Lâm tỉnh Lào Cai diện tích trồng Quế của toàn tỉnh 24.385,1 ha trong đó có 4 huyện có diện tích trồng Quế lớn nhất như: huyên Bảo Thắng 4.122,2 ha, huyện Văn Bàn 4.606,2 ha, huyện Bảo Yên 8.901,3 ha, huyện Bắc Hà 5. Hiện cây Quế đã khẳng định là một trong những cây trồng mũi nhọn, góp phần xóa đói, giảm nghèo và làm giàu cho đồng bào thuộc các huyện Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo Thắng. Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai đã có quy hoạch mở rộng vùng trồng Quế lên 25.000ha từ nay đến năm 2025 trong đó huyện Bảo Thắng 5500 ha, huyện Văn Bàn lên tới 4400 ha, huyện Bảo Yên lên tới 7800 ha, huyện Bắc Hà 7300 ha, tổng diện tích tăng gấp 2,5 lần diện tích Quế hiện tại. Đến thời điểm hiện tại đã có một số huyện có diện tích trồng Quế nhiều hơn so với quy hoạch (huyện Bảo Yên) đã trồng được 8.901,3 ha và có nhiều huyện ngoài h 2 vùng quy hoạch trồng Quế diện tích cũng tăng lên nhanh chóng như: huyện Mường Khương diện tích 438,8 ha huyện Bát Xát 551,8 ha.
Trước sự gia tăng nhanh về mặt diện tích nên nhiều vườn ươm và rừng trồng Quế của tỉnh Lào Cai đang đứng trước nguy cơ bị sâu bệnh hại tấn công. Điều tra và phòng trừ sâu hại ở giai đoạn vườn ươm và rừng trồng là không thể thiếu được, nếu thực hiện được vấn đề đó thì tổn thất do sâu hại gây ra sẽ giảm xuống một cách đáng kể. Trên thực tế tổn thất do sâu hại gây ra lớn hơn rất nhiều lần tổn thất do các tác hại tự nhiên khác. Sản xuất cây con các loài như thông, keo, quế, sa mộc đã có rất nhiều sâu hại xảy ra, Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các thành phần sâu hại, xây dựng danh lục và một số đặc điểm sinh học sâu hại Quế, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trừ sâu hại cho cây con ở vườn ươm và rừng trồng Quế là rất cần thiết.
Để góp phần sản xuất cây con đạt chất lượng cao phục vụ cho công tác trồng rừng tại Lào Cai thì việc chăm sóc, điều tra xác định thành phần sâu hại, nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của sâu hại và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại cây Quế giai đoạn vườn ươm và rừng trồng là không thể thiếu, vừa có ý nghĩa khoa học và có ý nghĩa thực tiễn lớn. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ của bản thân trong nghiên cứu khoa học về sâu hại cây Quế nói chung nên em tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra sâu hại Quế ở vườn ươm và Rừng trồng Quế tại xã Nậm Tha huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai và đề xuất biện pháp phòng trừ” là cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn sản xuất, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay 1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu chung Xác định được danh mục sâu hại Quế và đề xuất được biện pháp phòng trừ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây Quế ở giai đoạn vườn ươm và rừng trồng.
Mục tiêu cụ thể - Xác định được các loài sâu hại chính ở vườn ươm và rừng trồng quế - Xác định được thành phần sâu hại, tỷ lệ sâu hại, mức độ bị hại, yếu tố sinh thái, điều kiện lập địa của vườn ươm, rừng Quế tại Lào Cai h 3 - Xác định được một số đặc điểm sinh học của sâu hại ở vườn ươm và rừng trồng Quế - Đề xuất được một số giải pháp phòng trừ sâu hại Quế phù hợp cho địa phương nhằm bảo vệ và phát triển các cây Quế. Tính mới của vấn đề nghiên cứu Trên địa bản tỉnh Lào Cai chưa có công trình nào nghiên cứu bài bản có hệ thống về sâu hại Quế ở vườn ươm và rừng trồng. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu Khoa học - Giúp sinh viên có cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế.
Biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân. - Làm tiền đề cho sinh viên sau khi ra trường có thêm kiến thức để vững vàng bước vào cuộc sống sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn - Có danh mục sâu hại Quế giúp các tổ chức cá nhân trồng Quế nhận biết và phát hiện sâu hại sớm. - Bước đầu đề xuất được biện pháp phòng trừ nhằm giảm thiệt hại do sâu hại Quế gây ra, nâng cao năng xuất và chất lượng cây Quế ở giai đoạn vườn ươm và rừng trồng.
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc phòng trừ và đề xuất các biện pháp phòng trừ và kết hợp hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng với hiệu quả bảo vệ môi trường. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Cây Quế (Cinnamomum cassia blunne) là cây đa tác dụng, được trồng ở Yên Bái, Lào Cai, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Quảng Nam… Vỏ quế có vị cay, hương thơm, có nhiều công dụng trong thuốc đông y và có giá trị cao cho xuất khẩu. Thân, rễ cây quế có thể lấy vỏ, lá quế và các bộ phận khác đều có thể trưng cất tinh dầu, gỗ quế có thể dùng làm gỗ trụ mỏ và các đồ gia dụng khác.
Vì thế cây quế được đánh giá cao về khả năng mang lại lợi ích kinh tế cũng như đáp ứng được yêu cầu phòng hộ, bảo vệ sinh thái môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng của nó, người dân trong vùng đẩy mạnh trồng quế để tăng thu nhập, giải quyết một phần lao động dư thừa, tạo công ăn việc làm góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo. Theo Hà Chu Chừ (2009)[3], kỹ thuật trồng cây quế. Để đảm bảo khai thác quế theo hướng bền vững vừa đảm bảo lợi ích kinh tế vừa giữ được môi trường sinh thái nhiều doanh nghiệp Nhà nước, tư nhân và hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư, nghiên cứu cũng như tìm thị trường lâu dài cho cây quế.
Hiện nay ở miền núi có nhiều hộ gia đình và nhiều Lâm trường tham gia trồng quế, mang lại nguồn thu đáng kể cho nhiều hộ gia đình. Cây quế đã cung cấp nhiều mặt hàng cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về cây Quế Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở miền Nam và miền Đông châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam). Cây cao từ 10-15 m, vỏ màu xám, lá thuôn dài từ 10-15 cm.
Trong các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu. Hoa tự chùm, nhỏ màu trắng, quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Bộ rễ Quế phát triển mạnh, h 5 rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc. + Đặc điểm sinh thái học: Quế C.
tamala phân bố ở hầu hết các vùng Himalaya nhiệt đới, cận nhiệt đới và mở rộng đến vùng Đông Bắc Ấn Độ, đến độ cao 2000m. tamala được trồng ở vùng Khasi, Jaintia, đồi Garo của Meghalaya và vùng đồi Cachar Bắc của Assam (Cinnamom and cassia. Quế Inđonêsia có phân bố từ mặt biển đến độ cao 2000m. Trung tâm trồng Quế là vùng Padang, ở độ cao từ 500 – 1300m.
Một biến chủng của loài này có lá non màu đỏ sinh trưởng ở độ cao hơn trong vùng núi Korintji (còn gọi là Kerinci). Loại này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giới với tên gọi Quế Korintji (cinnamom and cassia. + Kỹ thuật gây trồng: Trên thế giới có nhiều nước trồng Quế rất thành công cho sản lượng và năng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với cự li 3m x 2m. Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 – 5 tháng tuổi.
Khi cây 8 – 10 tuổi được khai thác lá cho đến hàng trăm tuổi. Lá già được thu từ tháng 10 – 12 đến tháng 3 năm sau. Lá được thu hàng năm ở các cây trẻ và khỏe và luân phiên đối với cây già và yếu. Lá thường được bó thành từng bó, phơi ngoài nắng, rồi đem bán.
Sản lượng mỗi cây khoảng 9 – 19 kg/năm. Trồng teijat là một bộ phận trong hệ thống nông lâm kết hợp ở Ấn Độ (cinnamom and cassia. Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng. Ngoài chăm sóc về lâm sinh và phân bón, tác động duy nhất là tỉa các cành thấp ở thân cây.
Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 – 100kg/ha tùy thuộc tuổi cây, nhưng người trồng Quế hiếm khi sử dụng phân bón (Akahil Baruah và Subhan C. - Giá trị sử dụng Dầu quế được chiết xuất từ lá, vỏ cây, cành cây bằng cách chưng cất hơi nước. Các thành phần hóa học chính của dầu quế là aldehyd cinnamic, cinnamyl acetate, benzaldehyde, linalool và chavicol. h 6 Các đặc tính chữa bệnh của dầu quế là chống đầy hơi, chống tiêu chảy, chống vi khuẩn và chống nôn.