Chương 1. Một số van dé lý luận về điều kiện đầu tư kinh doanh dịch vụ logistics và pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh dich vu logistics. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh dịch vụ logistics.
CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE DIEU KIỆN DAU TƯ KINH DOANH DICH VU LOGISTICS VA PHAP LUAT VE DIEU KIEN DAU TU KINH DOANH DICH VU LOGISTICS 1. Khái niệm, vai trò của dich vu logistics và điều kiện đầu tư kinh doanh dich vu logistics 1. vai trò của dịch vu logistics Logistics hoàn toàn không phải là khái niệm quá xa lạ nhưng thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Có cách hiểu logistics hậu cần, có tài liệu dịch là tiếp vận hoặc tổ chức cung ứng, đảm bảo, thậm chí là giao nhận,.
Có thê thấy, các cách hiểu đó đều chưa thỏa đáng, chưa phản ánh đúng đắn và day đủ ban chất của logistics’. Logistics theo cách hiểu pho biến nhất là một hoạt động tổng hợp mang tính day chuyên, hiệu quả của quá trình này có tam quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia. Theo quy định của Luật thương mại năm 2005 (Điều 233) thì “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tô chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gom nhan hang, van chuyển, luu kho, lưu bãi, lam thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hang, đóng gói bao bì, ghi kỷ mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao ”. Trong bối cảnh nền kinh tế thé giới phát triển mạnh mẽ theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, dịch vu logistics ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các chủ thé đầu tư kinh doanh và đối với nền kinh tế: (i) Đối chủ thé đầu tư kinh doanh: Dịch vụ logistics có vai trò to lớn ở cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp.
Sự có mặt đa dạng của các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics cho phép các chu thể đầu tư kinh doanh đưa ra được lựa chọn chính xác và hiệu quả nhất trong kinh doanh, mở rộng thị trường, dịch chuyên hàng hóa, sản phẩm, tiếp cận thị trường quốc tế; (1) Ở góc độ vĩ mô - nền kinh tế quốc dân, dịch vụ logistics sẽ giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh không chỉ bị bó hẹp trong phạm vi biên giới quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quôc tê. Sự liên kêt chặt chẽ của các chủ thê kinh Trường Đại học kinh tế quốc dân (2012), Phát triển các dịch vụ logistics ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc té, Dé tài độc lập cap Nhà nước, Truong Dai học Kinh tê quôc dân, Hà Nội, tr 12-13. doanh với hệ thong dich vu logistics toan cau sé tao nén loi thé canh tranh cho nén kinh tế trong quá trình tiếp cận và khai thác các thị trường, gop phan đưa Việt Nam trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu, gan nền kinh tế Việt Nam với nên kinh tế thé giới. Khái niệm điều kiện đầu tư kinh doanh dich vu logistics Các chủ thê kinh doanh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh phải chấp hành, tuân thủ các yêu cầu, điều kiện khác nhau, đó có thể là điều kiện, yêu cầu đối với chủ thể kinh doanh, điều kiện, yêu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ do mình kinh doanh, điều kiện, yêu cầu trước khi kinh doanh, trong quá trình kinh doanh, khi tạm ngừng hoặc chấm dứt kinh doanh.
Thực tế, trong nhiều trường hợp còn chưa có sự phân định rõ ràng giữa điều kiện đầu tư kinh doanh và các yêu cầu, điều kiện khác mà chủ thể kinh doanh phải tuân thủ (các yêu cầu, nghĩa vụ khác của doanh nghiệp; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật). Điều này xuất phát từ việc khái niệm “điều kiện đầu tư kinh doanh” có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo đó, xét ở góc độ ngôn ngữ, điều kiện đầu tư kinh doanh có thể được hiểu là những yếu tố tác động đến đến hoạt động đầu tư kinh doanh hay còn gọi đó là môi trường kinh doanh”. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho răng, điều kiện đầu tư kinh doanh là những yêu cau, đòi hỏi mà chủ thé kinh doanh phải có hay phải thực hiện trước khi tiễn hành các hoạt động kinh doanh nhất định như sản xuất, phân phối, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận”.
Có quan điểm cho rang “Diéu kiện kinh doanh là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyên tự do kinh doanh của người dân, thường được cụ thé hóa bằng những hành vi của nhân viên hành chính có quyên chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng kí hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể ””. Theo đó, điều kiện kinh doanh xét về ban chất chính là sự can thiệp của cơ quan nhà nước vào quyền tự do kinh doanh của người dân thé hiện qua các hình thức nhất định. Trước đây, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đưa ra định nghĩa theo cách thức liệt kê hình thức của điều kiện kinh doanh “Diéu kiện kinh doanh là yêu cau mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ? Nguyễn Thị Huyền Trang (2014), Pháp luật và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam - Thực trạng và hưởng hoàn thiện, Luan văn thạc sĩ, Trường Dai học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 3 Vũ Thị Hiền (2014), Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.
* Phạm Duy Nghĩa (2006), Giáo trình Luật kinh tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 23-24. ngành, nghệ cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghệ, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu câu về vốn pháp định hoặc yêu câu khác” (khoản 2 Điều 7). Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2005. Theo đó, các quy định về ngành, nghề và điều kiện kinh doanh không được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 mà quy định trong Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Dau tư.
Cụ thé, Luật Dau tư năm 2014 không giải thích “điều kiện đầu tư kinh doanh” mà chỉ giải thích khái niệm “ngành, nghé đầu tư kinh doanh có điều kiện” như sau: “Ngành, nghệ dau tw kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động dau tu kinh doanh trong ngành, nghé đó phải đáp ứng diéu kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 1 Điều 7). Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định: "Diéu kiện dau tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tô chức phải đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về dau tư khi thực hiện hoạt động dau tư, kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư". Mặc dù chưa được quy định rõ ràng, cụ thể trong Luật Đầu tư năm 2014 và cũng chưa có một cách hiểu thống nhất nhưng khái niệm về điều kiện đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP có các đặc điểm sau: (i) Là yêu cầu, điều kiện cụ thé của từng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Điều kiện đầu tư kinh doanh gan chặt và tồn tại cùng với ngành nghé đầu tư kinh doanh có điều kiện; (1) Điều kiện đầu tư kinh doanh được áp dụng theo một hoặc một SỐ hình thức pháp lý (như: Giấy phép, Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.) hoặc đơn giản chi là các yêu cầu, điều kiện khác mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản; (iii) Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà doanh nghiệp phải đáp ứng khi bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh, đồng thời, các điều kiện kinh doanh đó phải được duy trì trong suốt quá trình hoạt động đầu tư kinh doanh; (iv) Điều kiện đầu tư kinh doanh chi được quy định tai luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư mà không được quy định ở các hình thức (loại) văn bản pháp luật khác”; (v) Việc đặt ra các điều kiện đầu tư kinh doanh đối với một ngành, nghé cụ thé phải vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, tránh sự tùy tiện không cần thiết.
Trên cơ sở các quan điểm khoa học và quy định của pháp luật, tác giả cho rằng "điều kiện dau tư kinh doanh dich vụ logistics là những yêu cau, đòi hỏi do cơ quan nhà nước có thẩm quyên quy định mà chủ thé dau tư kinh doanh dich vu logistics phải dap ung khi thực hiện hoạt động đâu tu kinh doanh dịch vu logistics và các yêu cấu, đòi hỏi đó được thé hiện dưới những hình thức nhất định". Với cách hiểu như vậy thì điều kiện đầu tư kinh doanh dich vu logistics có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về chủ thể có thẩm quyên quy định điểu kiện đâu tư kinh doanh địch vụ logisfics: Việc đặt ra các điều kiện đầu tư kinh doanh thực chất chính là biện pháp quản ly của nhà nước, có tác động đến quyên tự do kinh doanh của con người theo hướng “hạn chế quyền”. Theo đó, các hạn chế này phải được quy định một cách minh bạch, công khai trong một số loại văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thâm quyền ban hành (chi có thé quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định) hoặc điều ước quốc tế về đầu tư. Điều này đồng nghĩa với việc chủ thé có thâm quyền quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong hệ thông pháp luật Việt Nam (không bao gồm điều ước quốc tế) chỉ bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ.
Các điều kiện đầu tư kinh doanh quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác là không phù hợp.