Chương I: Đối tượng nghiên cứu và định hướng điều khiển lưu lượng. Chương II: Mô hình toán học của động cơ không đồng bộ ba pha. Chương 3: Đánh giá chất lượng hệ thống bằng mô phỏng và thực nghiệm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 3 CHƢƠNG I ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƢỚNG ĐIỀU KHIỂN LƢU LƢỢNG BẰNG HỆ THỐNG BIẾN TẦN – ĐỘNG CƠ KHÔNG ĐỒNG BỘ 1.
Đối tƣợng nghiên cứu [9,10] - Trong hệ thống điều khiển quá trình tiêu biểu là bình trộn dung dịch được minh họa như trên hình 1.1: Giản đồ công nghệ thiết bị trộn quá trình Đầu vào của bình trộn là 2 dòng dung dịch nóng và lạnh. Dung dịch được hòa vào trong bình và bơm ra ngoài bằng bơm P. Dung dịch vào 1 là nước nóng, có nhiệt độ T1[0C], lưu lượng F1[l/s] và khối lượng riêng ρ1 [kg/l]. Dung dịch vào 2 là nước lạnh, có nhiệt độ T2 [0C], lưu lượng F2 [l/s] và khối lượng riêng ρ2 [kg/l].
Dung dịch ra có nhiệt độ T3 [0C], lưu lượng F3 [l/s] và khối lượng riêng ρ3 [kg/l]. Dung dịch ở trong bình trộn có thể tích V [m3], diện tích đáy A [m2], nhiệt độ T [oC] và khối lượng riêng ρ [kg/l]. Đường vào dòng lạnh lắp van CV2. Các giả thiết: Khối lượng riêng của nước thay đổi không đáng kể ρ1 = ρ2= ρ3 = ρ; Nhiệt dung riêng đẳng áp của dòng quá trình là không đổi; coi nhiệt độ nước trong bình bằng nhiệt độ nước ra khỏi bình T3 = T.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 4 Để điều khiển lưu lượng dòng chảy F1 cấp cho bình trộn, ta sử dụng một bơm điện. Bơm được quay bằng động cơ không đồng bộ rotor lồng sóc. Điều chỉnh tốc độ động cơ sử dụng bộ biến tần. Giới thiệu về điều khiển tần số động cơ xoay chiều ba pha [4,5,6,8] Điều chỉnh tốc độ động cơ xoay chiều có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, xong việc điều chỉnh tốc độ bằng phương pháp thay đổi tần số nguồn cấp là phương pháp điều chỉnh triệt để cho phép thay đổi cả tốc độ đồng bộ, và điều chỉnh tốc độ động cơ trong vùng trên của tốc độ định mức.
Trong thực tế việc điều chỉnh tần số nguồn cấp này được thực hiện bởi các bộ biến tần. Một hệ thống truyền động trên cơ sở Biến tần - động cơ có sơ đồ cấu trúc tổng quát gồm nhiều nhiều vòng điều khiển như sau: Hình 1. Sơ đồ tổng quát hệ thống truyền động Biến tần - động cơ Trong sơ đồ hình 1.2 trên: - RI : Khối điều khiển dòng điện có chức năng nhận tín hiệu đặt và tín hiệu phản hồi dòng điện (mô men) và đưa ra tín hiệu điều khiển theo những luật điều khiển phù hợp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 5 - R : Khối điều khiển tốc độ có chức năng nhận tín hiệu đặt và tín hiệu phản hồi tốc độ và đưa ra tín hiệu điều khiển theo những luật điều khiển phù hợp.
- R : Khối điều khiển vị trí có chức năng nhận tín hiệu đặt và tín hiệu phản hồi vị trí và đưa ra tín hiệu điều khiển theo những luật điều khiển phù hợp. - Khối chỉnh lưu: thực hiện chức năng chỉnh lưu dòng điện xoay chiều 3 pha thành dòng điện một chiều để cung cấp cho khối biến tần PWM. Tùy theo loại biến tần mà có thể có hoặc không có khối này, với biến tần trực tiếp thì sẽ không có khối này. - Khối biến tần PWM: nhận từ điều khiển từ khối điều khiển dòng và thực hiện khuếch đại xung và đưa các điện áp đến động cơ chấp hành.
Khối này sử dụng các phần tử chuyển mạch là các phần tử bán dẫn làm việc ở chế độ chuyển mạch. - Khối động cơ chấp hành: Khối này có thể là động cơ xoay chiều đồng bộ hoặc không đồng bộ. - βI : Khối phản hồi dòng điện thực hiện chức năng phản hồi mômen (dòng điện) của động cơ và đưa tín hiệu phản hồi về bộ điều khiển dòng điện. - α : Khối phản hồi tốc độ động cơ điện và đưa tín hiệu phản hồi về bộ điều khiển tốc độ.
- θ : Khối phản hồi vị trí thực hiện chức năng nhận tín hiệu là vị trí (t) và đưa về khối điều khiển vị trí. - Máy công tác: Là các máy sản xuất hoặc các cơ cấu chấp hành cụ thể. Để tạo ra các bộ biến tần có f thay đổi được người ta có thể các bộ biến tần với máy điện quay hoặc dùng bộ biến tần bán dẫn. So với các bộ biến tần bán dẫn, bộ biến tần máy điện quay có nhiều nhược điểm và ngày càng ít dùng.
Động cơ không đồng bộ là loại máy điện được sử dụng phổ biến trong kỹ thuật truyền động điện do đó có ưu điểm là: đơn giản về kết cấu, gọn nhẹ dễ chế tạo, dễ sử dụng, đặc biệt động cơ rotor lồng sóc có kết cấu đơn giản, ở phần quay không có yêu cầu về cách điện và có thể làm việc ở cả môi trường có hoạt tính cao hoặc trong nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 6 Trước đây việc điều khiển tốc độ động cơ xoay chiều không đồng bộ gặp khó khăn khi điều khiển ở vùng tốc độ thấp. Ngày nay động cơ không đồng bộ được điều chỉnh bằng các bộ biến tần bán dẫn đã và đang được hoàn thiện và có khả năng cạnh tranh lớp với điều khiển một chiều, nhất là ở vùng công suất truyền động lớn hoặc tốc độ thấp. Đặc điểm của phương pháp điều khiển biến tần là: - Cho phép mở rộng dải điều chỉnh và nâng cao tính chất động học của hệ thống điều chỉnh tốc độ động cơ xoay chiều.
- Hệ thống điều chỉnh tốc độ động cơ bằng biến tấn có kết cấu đơn giản, làm việc được trong nhiều môi trường khác nhau. - Khả năng điều chỉnh tốc độ động cơ dễ dàng, có khả năng đáp ứng cho nhiều ứng dụng khác nhau. - Các thiết bị cần thay đổi tốc độ nhiều động cơ cùng một lúc (máy dệt, băng tải, băng chuyền,…) - Các thiết bị đơn lẻ yêu cầu tốc độ làm việc cao (máy ly tâm, máy mài,…) Hiện nay trên thế giới đang được lưu hành rất nhiều loại biến tần của các hãng khác nhau. Trong đó biến tần của hãng SIEMENS (Đức) là một trong những sản phẩm hàng đầu.
Nó có nhiều đặc điểm ưu việt về tính năng kỹ thuật cũng như chất lượng sản phẩm. Với mong muốn thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp Việt Nam. Đặc biệt là trong lĩnh vực truyền động điện, cũng như mong muốn giúp sinh viên tiếp cận với những công nghệ khoa học kỹ thuật mới, luận văn này xin giới thiệu một hệ thống thí nghiệm điều khiển tốc độ động cơ xoay chiều sử dụng thiết bị của SIEMENS. Hệ thống bộ biến đổi tần số (dùng chỉnh lưu PWM) - động cơ không đồng bộ (ASM – Asynchronous Machine).
Đối với động cơ điện không đồng bộ thì tần số là thông số điều khiển rất quan trọng. Điều khiển tần số là phương pháp điều khiển kinh điển, tuy nó đòi hỏi kỹ thuật cao và phức tạp vì xuất phát từ bản chất và nguyên lý làm việc của động cơ là phần cảm và phần ứng không tách biệt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 7 Một số yêu cầu chất lượng điều chỉnh nâng cao thì các phương pháp kinh điển khó đáp ứng được. Có 3 phương pháp chủ yếu sau: 1.
Điều khiển vô hướng (SFC: Scalar Frequency Control). Điều khiển định hướng theo từ trường (FOC: Field Oriented Control) 3. Điều khiển trực tiếp momen (DTC: Direct Toque Control) Trong đó: Phƣơng pháp thứ nhất: Thực chất của phương pháp điều khiển vô hướng (U/f bằng hằng số) là giữ cho từ thông stator (ψs) không đổi trong suốt quá trình điều chỉnh. Khi điều khiển tần số, nếu giữ từ thông khe hở không đổi thì động cơ sẽ được sử dụng hiệu quả nhất, tức là có khả năng sinh mômen lớn nhất.
Do những ưu điểm sẵn có của các động cơ không đồng bộ mà các hệ truyền động của chúng cũng thừa hưởng tính kinh tế và tính chắc chắn. Phương pháp này dễ thực hiện tuy vậy vẫn còn tồn tại nhược điểm: tổn thất công suất P và lượng tiêu thụ công suất phản kháng Q không phải là nhỏ nhất, ổn định tốc độ gặp khó khăn, mặc dù hệ truyền động đơn giản nhưng có hạn chế về độ chính xác tốc độ và đáp ứng mômen kém. Hệ truyền động không thể đảm bảo điều khiển được các đáp ứng về mômen và từ thông. Cho nên, điều khiển vô hướng được ứng dụng trong công nghiệp khi yêu cầu không cao về điều chỉnh sâu tốc độ.
Cấu trúc cơ bản của hệ truyền động theo phương pháp điều khiển vô hướng được biểu diễn trên hình 1. Sơ đồ cấu trúc gồm hai phần: A B C Đặt tần số ra NL CL ĐTS f Udc C Driver Sa,Sb,Sc U NL ĐCA PWM NL THĐ - SI I ia BĐD XL ib TG ASM Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.3: Cấu trúc điều khiển vô hướng hệ truyền động biến tần- động cơ không đồng bộ 8 Phần lực gồm: CL là khối chỉnh lưu dùng để biến đổi điện áp xoay chiều của mạng điện công nghiệp thành điện áp một chiều cấp cho khối nghịch lưu; NL là khối nghịch lưu thường dùng các khoá đóng cắt IGBT, thực hiện biến đổi điện áp một chiều Udc ở đầu ra khối CL thành điện áp xoay chiều cung cấp cho động cơ; ASM là động cơ không đồng bộ ba pha rotor long sóc; C là tụ lọc. Phần điều khiển gồm: Khâu tạo tín hiệu khống chế nghịch lưu theo nguyên lý điều chỉnh độ rộng xung (Driver NL PWM); bộ điều chỉnh biên độ điện áp ra nghịch lưu (ĐCA); các sensor đo dòng (SI) và đo tốc độ (TG); khâu biến đổi dòng ba pha của động cơ thành điện áp một chiều tỉ lệ với giá trị hiệu dụng dòng điện một pha (BĐD); XL là khâu gia công tín hiệu dòng điện và tốc độ động cơ phục vụ cho mục đích ổn định động hệ thống; tín hiệu đặt tốc độ của hệ (THĐ) được đưa đến khối đặt tần số để quyết định tần số ra của NL, đồng thời THĐ lại được tổng hợp với tín hiệu đầu ra của XL để khống chế biên độ điện áp ra của biến tần; các tín hiệu Sa, Sb, Sc là các chuỗi xung dùng để không chế các khoá IGBT trong ba pha của nghịch lưu. Việc khống chế qui luật thay đổi tần số giai đoạn khởi động do ĐTS quyết định, còn việc điều chỉnh điện áp được thực hiện bởi ĐCA.