HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH: Dịch Vụ Cho Phát Triển Nông Nghiệp Ở Thành Phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu dịch vụ phát triển nông nghiệp tại TP.HCM: Thực trạng, giải pháp thúc đẩy đến năm 2030. Phân tích vai trò, kinh nghiệm và quan điểm phát triển.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2025

195
7
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH VỤ CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ

1.1. Các công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp ở thành phố

1.2. Các công trình nghiên cứu về dịch vụ cho phát triển nông nghiệp ở thành phố

1.3. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ

2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của dịch vụ cho phát triển nông nghiệp ở thành phố

2.2. Nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến dịch vụ cho phát triển nông nghiệp ở thành phố

2.3. Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về dịch vụ cho phát triển nông nghiệp thành phố

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Khái quát tình hình phát triển nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 – 2023

3.2. Thực trạng dịch vụ cho phát triển nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2018 - 2023

3.3. Đánh giá chung về dịch vụ cho phát triển nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY DỊCH VỤ CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.1. Bối cảnh ảnh hưởng và quan điểm thúc đẩy dịch vụ cho phát triển nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030

4.2. Một số giải pháp thúc đẩy dịch vụ cho phát triển nông nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dịch Vụ Nông Nghiệp Đô Thị Tiềm Năng Vai Trò 55 ký tự

Nông nghiệp đô thị (NNĐT) ngày càng được các thành phố lớn tại Việt Nam chú trọng phát triển. Với lợi thế sản xuất gần khu dân cư, NNĐT cung cấp thực phẩm tươi sống, hoa, sinh vật cảnh, và một phần lương thực cho cư dân. NNĐT thường gắn liền với kỹ thuật, công nghệ cao, canh tác hữu cơ, mang lại nhiều lợi ích cho đô thị hiện đại. Cùng với sự phát triển của NNĐT là sự xuất hiện của các dịch vụ cho phát triển nông nghiệp (DVPTNN). Kinh nghiệm cho thấy, nếu được chính quyền tạo điều kiện, được cung cấp đầy đủ các dịch vụ từ khởi nghiệp, sản xuất đến chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu, thì NNĐT sẽ phát triển mạnh, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của đô thị. Do đó, cần nghiên cứu về mặt lý luận để có những phương thức, mô hình thúc đẩy dịch vụ phục vụ cho PTNN ở thành phố.

1.1. Khái niệm và đặc điểm Nông Nghiệp Đô Thị TP.HCM

Nông nghiệp đô thị TP.HCM tận dụng tối đa diện tích đất đai, bao gồm cả sân thượng, ban công, và các khu đất trống để trồng trọt và chăn nuôi. Đặc điểm nổi bật là ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật canh tác tiên tiến như thủy canh, khí canh, và trồng trong nhà kính, nhằm tối ưu hóa năng suất và chất lượng sản phẩm. Các mô hình NNĐT thường hướng đến sản xuất rau sạch, an toàn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, giảm thiểu chi phí vận chuyển và bảo quản. Bên cạnh đó, NNĐT còn góp phần tạo cảnh quan xanh, cải thiện môi trường sống và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho cộng đồng.

1.2. Vai trò của Dịch Vụ Phát Triển Nông Nghiệp Đô Thị Bền Vững

Các dịch vụ đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của NNĐT. Chúng bao gồm: cung cấp giống, vật tư nông nghiệp chất lượng; tư vấn kỹ thuật; chuyển giao công nghệ; hỗ trợ chế biến, bảo quản, và tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt, các dịch vụ hỗ trợ xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, và kết nối thị trường giúp nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm NNĐT. Phát triển DVPTNN không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh mà còn góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân đô thị, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Theo [32, tr. ], TP.HCM xác định cần bổ sung nhiều chính sách, xây dựng hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp đồng bộ, đồng thời xây dựng các chuỗi liên kết và chuỗi cung ứng trong nông nghiệp.

II. Thách Thức Phát Triển Dịch Vụ Nông Nghiệp Đô Thị tại TP

TP.HCM là trung tâm kinh tế lớn với nhu cầu lớn về lương thực, thực phẩm tươi sống, hoa, sinh vật cảnh. Chủ trương phát triển NNĐT hiện đại, thúc đẩy các loại hình dịch vụ cho PTNN gắn với ứng dụng công nghệ cao đã được Đảng bộ và chính quyền Thành phố đặt ra. Mặc dù đã đạt được những thành tựu bước đầu, song PTNN tại TP.HCM vẫn còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là các dịch vụ cho PTNN chưa thực sự phát triển mạnh, chưa hỗ trợ tốt nhất cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh.

2.1. Hạn chế trong Cung ứng Giống Cây Trồng Vật Nuôi Chất Lượng

Theo luận án tiến sĩ, dịch vụ về giống vật nuôi, cây trồng chất lượng cao phát triển chưa như mong đợi, nhiều loại giống còn phải nhập ngoại. Điều này làm tăng chi phí sản xuất, giảm tính cạnh tranh của sản phẩm NNĐT. Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, viện nghiên cứu đầu tư vào nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất giống chất lượng cao, phù hợp với điều kiện canh tác đô thị. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống kiểm định, chứng nhận chất lượng giống để đảm bảo quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng. Khu Nông nghiệp công nghệ cao tại huyện Củ Chi, Trung tâm Công nghệ sinh học tại Quận 12 và Trại Trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao tại huyện Bình Chánh, hoạt động bước đầu có hiệu quả, nhưng cần nhân rộng và phát triển hơn nữa.

2.2. Thiếu Hụt Dịch vụ Tư vấn Thiết kế Lắp đặt Kỹ thuật NNĐT

Dịch vụ tư vấn, thiết kế, lắp đặt về kỹ thuật, công nghệ cho sản xuất NNĐT chưa nhiều, giá thành còn cao. Điều này gây khó khăn cho các hộ sản xuất, doanh nghiệp nhỏ trong việc tiếp cận công nghệ tiên tiến. Cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích các đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn, thiết kế, lắp đặt kỹ thuật NNĐT với chi phí hợp lý. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo, tập huấn cho người dân về kỹ thuật canh tác NNĐT hiện đại, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

2.3. Khó Khăn trong Kết nối Sản Xuất Phân Phối và Xây dựng Thương hiệu

Việc hỗ trợ kết nối hình thành chuỗi liên kết sản xuất - phân phối còn gặp nhiều khó khăn, nhiều sản phẩm khó tìm được chỗ đứng trong hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại. Nhiều đơn vị sản xuất cũng rất khó khăn trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu, sản phẩm 3 an toàn. Các hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp làm dịch vụ cho PTNN đô thị còn hạn chế. Cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm NNĐT, kết nối với hệ thống phân phối hiện đại. Đồng thời, cần khuyến khích hình thành các HTX, doanh nghiệp làm dịch vụ cho PTNN đô thị, tạo thành chuỗi liên kết chặt chẽ từ sản xuất đến tiêu thụ.

III. Phương Pháp Phát Triển Dịch Vụ Nông Nghiệp Đô Thị 58 ký tự

Để giải quyết các thách thức trên, cần có các phương pháp tiếp cận toàn diện, đồng bộ, bao gồm:

3.1. Xây dựng Chính sách Hỗ trợ Dịch vụ Nông nghiệp Đô thị Thông minh

Cần xây dựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, HTX, trang trại đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp đô thị, đặc biệt là các dịch vụ ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thông tin. Chính sách hỗ trợ có thể bao gồm: ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại. Cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này. Theo [33, tr. ], cần bổ sung nhiều chính sách, xây dựng hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp đồng bộ, đồng thời xây dựng các chuỗi liên kết và chuỗi cung ứng trong nông nghiệp.

3.2. Tăng cường Nghiên cứu Ứng dụng Khoa học Công nghệ vào Dịch vụ

Cần đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào các khâu của dịch vụ nông nghiệp, từ sản xuất giống, chăm sóc cây trồng, vật nuôi đến chế biến, bảo quản, vận chuyển. Cần khuyến khích các doanh nghiệp, viện nghiên cứu hợp tác, chuyển giao công nghệ cho người dân. Ứng dụng công nghệ thông tin, IoT, AI vào quản lý, giám sát, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp. Theo Davies and Banning Garrett (2018), tích hợp công nghệ thông minh có thể giúp tạo ra các Hệ sinh thái thực phẩm đô thị bền vững (UFEs) cho dân số đô thị đang gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển.

3.3. Phát triển Chuỗi Giá trị Nông nghiệp Bền vững và Du lịch

Cần xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp khép kín, từ sản xuất đến tiêu thụ, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm. Cần kết nối chặt chẽ giữa người sản xuất, doanh nghiệp chế biến, phân phối, và người tiêu dùng. Phát triển các kênh phân phối đa dạng, phù hợp với đặc điểm của sản phẩm NNĐT. Khuyến khích phát triển du lịch nông nghiệp, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp với trải nghiệm, khám phá văn hóa, ẩm thực địa phương. Chưa gắn kết mạnh mẽ các hoạt động du lịch với thúc đẩy đẩy sản xuất và quảng bá, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Kinh Tế Chính Trị về Nông Nghiệp Đô Thị 57 ký tự

Luận án tiến sĩ ngành Kinh tế chính trị đã nghiên cứu sâu về các yếu tố kinh tế, chính trị ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ nông nghiệp đô thị tại TP.HCM. Nghiên cứu đã chỉ ra các rào cản về chính sách, nguồn lực, và thị trường, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để khắc phục. Các giải pháp được đề xuất thực hiện đến năm 2030.

4.1. Phân tích Chính sách Hỗ trợ Phát triển Kinh tế Nông nghiệp

Luận án đã phân tích các chính sách hiện hành của Nhà nước và TP.HCM về hỗ trợ phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là các chính sách liên quan đến nông nghiệp đô thị. Phân tích tập trung vào hiệu quả của các chính sách, những điểm còn hạn chế và các đề xuất sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn phát triển. Cần xây dựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, HTX, trang trại đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp đô thị, đặc biệt là các dịch vụ ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thông tin.

4.2. Đánh giá Tác động Kinh tế và Xã hội của Nông nghiệp Đô thị

Nghiên cứu đánh giá tác động của nông nghiệp đô thị đến kinh tế, xã hội, và môi trường của TP.HCM. Tác động kinh tế bao gồm tăng trưởng GDP, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Tác động xã hội bao gồm cải thiện an ninh lương thực, nâng cao chất lượng cuộc sống, và tăng cường gắn kết cộng đồng. Tác động môi trường bao gồm giảm ô nhiễm, cải thiện không khí, và tăng cường đa dạng sinh học. Nông nghiệp đô thị cũng góp phần giảm bất bình đẳng giới, vì theo các tác giả 65% nông dân thành thị là phụ nữ; mang lại lợi ích về mặt sinh thái bằng cách giảm thiểu chất thải thành phố, cải thiện đa dạng sinh học đô thị và chất lượng không khí, giảm thiểu tác động môi trường do giảm việc vận chuyển và lưu trữ thực phẩm.

V. Ứng dụng Dịch vụ Nông nghiệp Đô thị Mô hình Hiệu quả 54 ký tự

Luận án trình bày các mô hình ứng dụng thành công dịch vụ nông nghiệp đô thị tại TP.HCM, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nhân rộng. Việc triển khai các mô hình hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nông nghiệp đô thị. Các giải pháp được đề xuất thực hiện đến năm 2030.

5.1. Mô hình Chuỗi Cung Ứng Rau Sạch từ Nông Trại đến Bàn Ăn

Phân tích chi tiết về chuỗi cung ứng rau sạch từ các nông trại đô thị đến các siêu thị, cửa hàng tiện lợi, và nhà hàng tại TP.HCM. Mô hình này tập trung vào việc đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, và giá cả hợp lý cho người tiêu dùng. Để thuận lợi trong việc mô tả các loại hình dịch vụ cho PTNN ở thành phố khi phân tích, đánh giá, luận án phân chia các dịch vụ kể trên vào hai nhóm, đó là dịch vụ đầu vào và đầu ra.

5.2. Mô hình Du Lịch Nông Nghiệp Kết Hợp Giáo Dục và Trải Nghiệm

Mô tả các khu du lịch nông nghiệp tại TP.HCM, nơi du khách có thể tham gia vào các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, và chế biến nông sản. Mô hình này không chỉ mang lại lợi nhuận cho người nông dân mà còn giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về nông nghiệp đô thị và bảo vệ môi trường. Chưa gắn kết mạnh mẽ các hoạt động du lịch với thúc đẩy đẩy sản xuất và quảng bá, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

VI. Tương Lai Dịch Vụ Nông Nghiệp Đô Thị tại TP

Luận án dự báo về xu hướng phát triển của dịch vụ nông nghiệp đô thị tại TP.HCM trong tương lai, đồng thời đề xuất các chiến lược để nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức. Các giải pháp được đề xuất thực hiện đến năm 2030.

6.1. Xu Hướng Ứng Dụng Công Nghệ Số và Thương Mại Điện Tử

Phân tích về vai trò của công nghệ số và thương mại điện tử trong việc phát triển dịch vụ nông nghiệp đô thị tại TP.HCM. Các ứng dụng này giúp kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, giảm chi phí trung gian, và nâng cao hiệu quả hoạt động. Do đó, tích hợp công nghệ thông minh có thể giúp tạo ra các Hệ sinh thái thực phẩm đô thị bền vững (UFEs) cho dân số đô thị đang gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển.

6.2. Chiến Lược Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng cao

Đề xuất các chiến lược để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho dịch vụ nông nghiệp đô thị tại TP.HCM, bao gồm đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho người lao động, và thu hút các chuyên gia giỏi về lĩnh vực này. Cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này. Theo [33, tr. ], cần bổ sung nhiều chính sách, xây dựng hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp đồng bộ, đồng thời xây dựng các chuỗi liên kết và chuỗi cung ứng trong nông nghiệp.

13/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH VỤ CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ * 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước về phát triển nông nghiệp ở thành phố Leonie J. Pearson, Linda Pearson and Craig J.

Nghiên cứu của các tác giả đã đánh giá nông nghiệp đô thị bền vững ở cả tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trường. Với ba yếu tố của nông nghiệp đô thị: nông nghiệp đô thị biệt lập; giao diện của nó với mọi người và môi trường mà nó nằm trong đó; và đóng góp của nó vào việc thiết kế xây dựng thành phố. Từ đó nghiên cứu cho rằng những nghiên cứu trong tương lai cần hướng tới thực hiện các nhiệm vụ: (1) Xác định một cách chiến lược nội ngành nông nghiệp đô thị bền vững giúp các nhà hoạch định chính sách thiết kế các thành phố có khả năng chống chịu (ví dụ như sử dụng các khu vực dễ bị ngập lụt để sản xuất lương thực và tạo việc làm); (2) Vận hành thử nghiệm các cơ chế thể chế đổi mới (ví dụ thuế đất hỗ trợ nông nghiệp đô thị bền vững); (3) Các khoản chi trả cho các dịch vụ môi trường do nông nghiệp đô thị cung cấp, chẳng hạn như hấp thụ cacbon. Trong nghiên cứu này đã chỉ ra, năm 2007 lần đầu tiên cư dân đô thị đã chiếm hơn nửa dân số thế giới.

Ở nhiều nước đang phát triển, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, đi cùng với tình trạng nghèo đói, ô nhiễm môi trường và tình trạng an ninh lương thực không được đảm bảo. Các tác giả cho rằng, nông nghiệp đô thị chính là cơ hội để cải thiện nguồn cung cấp lương thực, điều kiện sức khỏe, kinh tế địa phương, hội nhập xã hội và tính bền vững môi trường. Nông nghiệp đô thị ngày 8 càng phát triển trên khắp thế giới với sự đa dạng của các hệ thống canh tác, có tới 25 - 30% cư dân đô thị tham gia vào lĩnh vực nông sản trên toàn thế giới. Nghiên cứu cũng chỉ ra, nông nghiệp đô thị mang lại nhiều lợi ích như: cung cấp cho thị trường thành phố những mặt hàng nông sản tươi sống; hỗ trợ cải thiện đời sống cho người nghèo ở thành thị vì 85% thu nhập của họ để mua thực phẩm; nông nghiệp đô thị cũng góp phần giảm bất bình đẳng giới, vì theo các tác giả 65% nông dân thành thị là phụ nữ; mang lại lợi ích về mặt sinh thái bằng cách giảm thiểu chất thải thành phố, cải thiện đa dạng sinh học đô thị và chất lượng không khí, giảm thiểu tác động môi trường do giảm việc vận chuyển và lưu trữ thực phẩm.

Davies and Banning Garrett (2018), “Technology for Sustainable Urban Food Ecosystems in the Developing World: Strengthening the Nexus of Food-Water-Energy-Nutrition” (Công nghệ cho hệ sinh thái thực phẩm đô thị bền vững ở các nước đang phát triển: Tăng cường mối quan hệ giữa thực phẩm, nước, năng lượng và dinh dưỡng) [122]. Nghiên cứu cho rằng, tốc độ đô thị hóa trên thế giới đang diễn ra rất nhanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Do đó, tích hợp công nghệ thông minh có thể giúp tạo ra các Hệ sinh thái thực phẩm đô thị bền vững (UFEs) cho dân số đô thị đang gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Các tác giả đã tổng hợp từ các nghiên cứu trên thế giới để chỉ ra 12 nền tảng công nghệ sáng tạo, thúc đẩy các Hệ sinh thái thực phẩm đô thị ở các nước đang phát triển, như: (1) các nền tảng công nghệ kỹ thuật số kết nối, cung cấp thông tin; (2) dịch vụ uberized (uberized service cung cấp dịch vụ nền tảng cho các doanh nghiệp nhỏ/thay đổi thị trường nhờ sử dụng công nghệ di động); (3) nông nghiệp chính xác (GPS, IoT, AI); (4) nông nghiệp môi trường được kiểm soát; (5) công nghệ chuỗi khối (Blockchain) để tăng tính minh bạch và an toàn thực phẩm; (6) công nghệ năng lượng mặt trời và năng lượng gió; (7) công nghệ lai tạo giống năng suất, chất lượng cao; (8) di truyền học nâng cao, bao gồm chỉnh sửa gen, sinh học tổng hợp và sinh học đám mây; (9) công nghệ sinh học, bao gồm chỉnh sửa hệ vi sinh vật, sinh học đất; (10) công nghệ nano và vật liệu tiên tiến; (11) Sản xuất phụ gia/in 3-D; (12) tích hợp công nghệ mới để mở rộng quy mô các công nghệ hiện có, chưa được sử dụng.

Nghiên cứu của tác giả O’Sullivan và các cộng sự chỉ ra rằng, nông nghiệp đô thị hiện đang được nhiều thành phố giàu có quan tâm và phát triển với công nghệ và kiến trúc nông nghiệp mới, hướng tới việc cung cấp lương thực, thực phẩm với quy mô thương mại. Các tác giả dẫn theo số liệu của FAO cho thấy trên thế giới hiện có hơn 800 triệu người tham gia vào nông nghiệp đô thị, sản xuất hơn 15% lương thực trên thế giới. Nông nghiệp đô thị có thể giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, các trang trại ‘chống chọi với khí hậu’, giúp giải quyết vấn đề an ninh lương thực cho dân số đô thị ngày càng tăng và cung cấp thực phẩm không hóa chất, không có nguy cơ sâu bệnh. Các trang trại đô thị được phát triển để tận dụng năng lượng, nước và chất dinh dưỡng từ chất thải đô thị nhưng cần có những đổi mới để sử dụng các nguồn tài nguyên này một cách an toàn và tiết kiệm.

Các tác giả cũng cho rằng, nông nghiệp đô thị cũng có cơ hội để cải thiện năng suất và chất lượng cây trồng bằng cách kết hợp những tiến bộ trong kiểm soát môi trường (ít chịu tác động bởi những thay đổi thời tiết, khí hậu), hiện tượng học và tự động hóa với những nỗ lực lai tạo để thích nghi với các đặc điểm về kiến trúc, và nâng cao chất lượng (hương vị và dinh dưỡng) cho phép nhiều loại cây trồng đa dạng hơn được trồng trong môi trường được kiểm soát tại các trang trại đô thị. Theo tác giả Cathryn O’Sullivan, các thành phố nên bắt đầu suy nghĩ về cách các trang trại này có thể phù hợp với quy hoạch đô thị của họ và hiểu những ưu và nhược điểm. Họ cũng nên làm việc với các nhà nghiên cứu để hiểu hệ thống nào sẽ hoạt động tốt nhất trong môi trường của họ. Nghiên cứu của tác giả Sriram Natrajan tìm hiểu về sự tái xuất hiện (theo tác giả) của nông nghiệp đô thị tại các thành phố lớn của Trung Quốc.

Tác giả cho rằng trước những năm 1990 các thành phố lớn của Trung Quốc có khả năng đáp ứng khá 10 tốt nhu cầu về lương thực, thực phẩm, tuy nhiên, sau đó với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, sự bùng nổ dân số cùng với đó là diện tích sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể, đã khiến cho nhu cầu lương thực, thực phẩm chủ yếu phải nhập về từ nơi khác. Trong khoảng mười năm trở lại đây, nghiên cứu chỉ ra rằng với sự tiến bộ của KHCN trong canh tác, nông nghiệp đô thị đã trở thành một ưu tiên trong nông nghiệp và chính sách lương thực của Trung Quốc. Tác giả đã trình bày sự phát triển của nông nghiệp ở các thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Nam Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán. Với những công viên nông nghiệp đô thị hiện đại (Modern Urban Agricultural Park) ở Bắc Kinh hay Thượng Hải.

Những hộ gia đình ở Nam Kinh, Vũ Hán tận dụng những diện tích chật hẹp của đô thị để canh tác như ban công, mái nhà, vỉa hè, đất dưới cầu và đường dây điện,… Mục đích của nông nghiệp đô thị theo nghiên cứu của Sriram Natrajan là để cung cấp thực phẩm tươi và an toàn, tạo ra môi trường sống trong lành, hay cũng có thể phục vụ du lịch nông nghiệp và giáo dục học sinh trong các trường học ở thành phố. Kết luận của nghiên cứu, tác giả cho rằng nông nghiệp đô thị và ven đô đang là một ngành quan trọng và phát triển ở Trung Quốc. Và trong số các các hình thức nông nghiệp đô thị, thì nông nghiệp vùng ven đô và nông nghiệp công nghệ cao là trọng tâm trong chính sách phát triển của chính phủ Trung Quốc, do có tiềm năng lớn hơn về quy mô, năng suất và giá trị gia tăng. Tác giả đã tập trung phân tích những cơ hội và thách thức trong PTNN đô thị ở Băng-cốc - Thái Lan, đặc biệt là mô hình trang trại nông nghiệp nhà kính.

Nghiên cứu đã phân tích về vị trí nông nghiệp trong nhà kính ở đô thị, vận hành, thiết kế nhà kính và phân tích tiếp thị sản phẩm nông nghiệp. Trên cơ sở khảo sát 54 trang trại nhà kính thuộc vùng đô thị Băng-cốc, tác giả khẳng định, vị trí của các trang trại không còn là hạn chế của nông nghiệp đô thị, vì những chủ trang trại nhà kính có thể sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để quảng bá trang trại và sản phẩm của 11 họ. Nghiên cứu này có thể được sử dụng làm cơ sở dữ liệu cho các nhà nghiên cứu, nông dân thành thị và người dân địa phương muốn đầu tư vào kinh doanh nông nghiệp đô thị nhà kính. Yiming Shao and partners (2022), “The potential of urban family vertical farming: A pilot study of Shanghai” (Tiềm năng của nông trại gia đình thẳng đứng ở đô thị: Một nghiên cứu thí điểm tại Thượng Hải) [143].

Công trình nghiên cứu đánh giá tính khả thi về kinh tế của nông trại gia đình thẳng đứng ở một khu dân cư mới xây dựng tại Thượng Hải - Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu chứng minh, nông trại gia đình thẳng đứng góp phần vào việc tăng khả năng tự cung cấp rau xanh lên tới 20,68% và trái cây là 2,54%. Các tác giả cho rằng, nông trại gia đình thẳng đứng ở đô thị có thể rất quan trọng để tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống thực phẩm địa phương. Bên cạnh đó, lợi nhuận đầu tư của nông trại gia đình thẳng đứng ở đô thị có thể lên tới 30%.

Mô hình kinh tế - kỹ thuật được đề xuất có thể hỗ trợ để dự đoán tốt hơn nông trại thẳng đứng quy mô nhỏ ở thành phố, cung cấp cơ sở để ra quyết định về PTNN đô thị bền vững. Nông trại gia đình thẳng đứng ở đô thị có thể mang lại sản lượng rau và trái cây đáng kể. Bằng cách sắp xếp một cấu trúc canh tác thẳng đứng đơn giản ở ban công và cửa sổ hướng Nam dựa vào ánh sáng tự nhiên, năng suất rau quả hàng năm có thể đạt 112,6 kg-147,4 kg.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị "Dịch Vụ Phát Triển Nông Nghiệp Đô Thị tại TP.HCM" đi sâu vào phân tích thực trạng, cơ hội và thách thức của việc phát triển nông nghiệp đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận án có thể cung cấp một cái nhìn toàn diện về các chính sách, mô hình kinh tế, và tác động xã hội của nông nghiệp đô thị, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về tiềm năng và định hướng phát triển bền vững cho lĩnh vực này.

Để hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của nông nghiệp đô thị, bạn có thể tham khảo: