Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH VỤ CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ * 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước về phát triển nông nghiệp ở thành phố Leonie J. Pearson, Linda Pearson and Craig J.
Nghiên cứu của các tác giả đã đánh giá nông nghiệp đô thị bền vững ở cả tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trường. Với ba yếu tố của nông nghiệp đô thị: nông nghiệp đô thị biệt lập; giao diện của nó với mọi người và môi trường mà nó nằm trong đó; và đóng góp của nó vào việc thiết kế xây dựng thành phố. Từ đó nghiên cứu cho rằng những nghiên cứu trong tương lai cần hướng tới thực hiện các nhiệm vụ: (1) Xác định một cách chiến lược nội ngành nông nghiệp đô thị bền vững giúp các nhà hoạch định chính sách thiết kế các thành phố có khả năng chống chịu (ví dụ như sử dụng các khu vực dễ bị ngập lụt để sản xuất lương thực và tạo việc làm); (2) Vận hành thử nghiệm các cơ chế thể chế đổi mới (ví dụ thuế đất hỗ trợ nông nghiệp đô thị bền vững); (3) Các khoản chi trả cho các dịch vụ môi trường do nông nghiệp đô thị cung cấp, chẳng hạn như hấp thụ cacbon. Trong nghiên cứu này đã chỉ ra, năm 2007 lần đầu tiên cư dân đô thị đã chiếm hơn nửa dân số thế giới.
Ở nhiều nước đang phát triển, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, đi cùng với tình trạng nghèo đói, ô nhiễm môi trường và tình trạng an ninh lương thực không được đảm bảo. Các tác giả cho rằng, nông nghiệp đô thị chính là cơ hội để cải thiện nguồn cung cấp lương thực, điều kiện sức khỏe, kinh tế địa phương, hội nhập xã hội và tính bền vững môi trường. Nông nghiệp đô thị ngày 8 càng phát triển trên khắp thế giới với sự đa dạng của các hệ thống canh tác, có tới 25 - 30% cư dân đô thị tham gia vào lĩnh vực nông sản trên toàn thế giới. Nghiên cứu cũng chỉ ra, nông nghiệp đô thị mang lại nhiều lợi ích như: cung cấp cho thị trường thành phố những mặt hàng nông sản tươi sống; hỗ trợ cải thiện đời sống cho người nghèo ở thành thị vì 85% thu nhập của họ để mua thực phẩm; nông nghiệp đô thị cũng góp phần giảm bất bình đẳng giới, vì theo các tác giả 65% nông dân thành thị là phụ nữ; mang lại lợi ích về mặt sinh thái bằng cách giảm thiểu chất thải thành phố, cải thiện đa dạng sinh học đô thị và chất lượng không khí, giảm thiểu tác động môi trường do giảm việc vận chuyển và lưu trữ thực phẩm.
Davies and Banning Garrett (2018), “Technology for Sustainable Urban Food Ecosystems in the Developing World: Strengthening the Nexus of Food-Water-Energy-Nutrition” (Công nghệ cho hệ sinh thái thực phẩm đô thị bền vững ở các nước đang phát triển: Tăng cường mối quan hệ giữa thực phẩm, nước, năng lượng và dinh dưỡng) [122]. Nghiên cứu cho rằng, tốc độ đô thị hóa trên thế giới đang diễn ra rất nhanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Do đó, tích hợp công nghệ thông minh có thể giúp tạo ra các Hệ sinh thái thực phẩm đô thị bền vững (UFEs) cho dân số đô thị đang gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Các tác giả đã tổng hợp từ các nghiên cứu trên thế giới để chỉ ra 12 nền tảng công nghệ sáng tạo, thúc đẩy các Hệ sinh thái thực phẩm đô thị ở các nước đang phát triển, như: (1) các nền tảng công nghệ kỹ thuật số kết nối, cung cấp thông tin; (2) dịch vụ uberized (uberized service cung cấp dịch vụ nền tảng cho các doanh nghiệp nhỏ/thay đổi thị trường nhờ sử dụng công nghệ di động); (3) nông nghiệp chính xác (GPS, IoT, AI); (4) nông nghiệp môi trường được kiểm soát; (5) công nghệ chuỗi khối (Blockchain) để tăng tính minh bạch và an toàn thực phẩm; (6) công nghệ năng lượng mặt trời và năng lượng gió; (7) công nghệ lai tạo giống năng suất, chất lượng cao; (8) di truyền học nâng cao, bao gồm chỉnh sửa gen, sinh học tổng hợp và sinh học đám mây; (9) công nghệ sinh học, bao gồm chỉnh sửa hệ vi sinh vật, sinh học đất; (10) công nghệ nano và vật liệu tiên tiến; (11) Sản xuất phụ gia/in 3-D; (12) tích hợp công nghệ mới để mở rộng quy mô các công nghệ hiện có, chưa được sử dụng.
Nghiên cứu của tác giả O’Sullivan và các cộng sự chỉ ra rằng, nông nghiệp đô thị hiện đang được nhiều thành phố giàu có quan tâm và phát triển với công nghệ và kiến trúc nông nghiệp mới, hướng tới việc cung cấp lương thực, thực phẩm với quy mô thương mại. Các tác giả dẫn theo số liệu của FAO cho thấy trên thế giới hiện có hơn 800 triệu người tham gia vào nông nghiệp đô thị, sản xuất hơn 15% lương thực trên thế giới. Nông nghiệp đô thị có thể giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, các trang trại ‘chống chọi với khí hậu’, giúp giải quyết vấn đề an ninh lương thực cho dân số đô thị ngày càng tăng và cung cấp thực phẩm không hóa chất, không có nguy cơ sâu bệnh. Các trang trại đô thị được phát triển để tận dụng năng lượng, nước và chất dinh dưỡng từ chất thải đô thị nhưng cần có những đổi mới để sử dụng các nguồn tài nguyên này một cách an toàn và tiết kiệm.
Các tác giả cũng cho rằng, nông nghiệp đô thị cũng có cơ hội để cải thiện năng suất và chất lượng cây trồng bằng cách kết hợp những tiến bộ trong kiểm soát môi trường (ít chịu tác động bởi những thay đổi thời tiết, khí hậu), hiện tượng học và tự động hóa với những nỗ lực lai tạo để thích nghi với các đặc điểm về kiến trúc, và nâng cao chất lượng (hương vị và dinh dưỡng) cho phép nhiều loại cây trồng đa dạng hơn được trồng trong môi trường được kiểm soát tại các trang trại đô thị. Theo tác giả Cathryn O’Sullivan, các thành phố nên bắt đầu suy nghĩ về cách các trang trại này có thể phù hợp với quy hoạch đô thị của họ và hiểu những ưu và nhược điểm. Họ cũng nên làm việc với các nhà nghiên cứu để hiểu hệ thống nào sẽ hoạt động tốt nhất trong môi trường của họ. Nghiên cứu của tác giả Sriram Natrajan tìm hiểu về sự tái xuất hiện (theo tác giả) của nông nghiệp đô thị tại các thành phố lớn của Trung Quốc.
Tác giả cho rằng trước những năm 1990 các thành phố lớn của Trung Quốc có khả năng đáp ứng khá 10 tốt nhu cầu về lương thực, thực phẩm, tuy nhiên, sau đó với quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, sự bùng nổ dân số cùng với đó là diện tích sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể, đã khiến cho nhu cầu lương thực, thực phẩm chủ yếu phải nhập về từ nơi khác. Trong khoảng mười năm trở lại đây, nghiên cứu chỉ ra rằng với sự tiến bộ của KHCN trong canh tác, nông nghiệp đô thị đã trở thành một ưu tiên trong nông nghiệp và chính sách lương thực của Trung Quốc. Tác giả đã trình bày sự phát triển của nông nghiệp ở các thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Nam Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán. Với những công viên nông nghiệp đô thị hiện đại (Modern Urban Agricultural Park) ở Bắc Kinh hay Thượng Hải.
Những hộ gia đình ở Nam Kinh, Vũ Hán tận dụng những diện tích chật hẹp của đô thị để canh tác như ban công, mái nhà, vỉa hè, đất dưới cầu và đường dây điện,… Mục đích của nông nghiệp đô thị theo nghiên cứu của Sriram Natrajan là để cung cấp thực phẩm tươi và an toàn, tạo ra môi trường sống trong lành, hay cũng có thể phục vụ du lịch nông nghiệp và giáo dục học sinh trong các trường học ở thành phố. Kết luận của nghiên cứu, tác giả cho rằng nông nghiệp đô thị và ven đô đang là một ngành quan trọng và phát triển ở Trung Quốc. Và trong số các các hình thức nông nghiệp đô thị, thì nông nghiệp vùng ven đô và nông nghiệp công nghệ cao là trọng tâm trong chính sách phát triển của chính phủ Trung Quốc, do có tiềm năng lớn hơn về quy mô, năng suất và giá trị gia tăng. Tác giả đã tập trung phân tích những cơ hội và thách thức trong PTNN đô thị ở Băng-cốc - Thái Lan, đặc biệt là mô hình trang trại nông nghiệp nhà kính.
Nghiên cứu đã phân tích về vị trí nông nghiệp trong nhà kính ở đô thị, vận hành, thiết kế nhà kính và phân tích tiếp thị sản phẩm nông nghiệp. Trên cơ sở khảo sát 54 trang trại nhà kính thuộc vùng đô thị Băng-cốc, tác giả khẳng định, vị trí của các trang trại không còn là hạn chế của nông nghiệp đô thị, vì những chủ trang trại nhà kính có thể sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để quảng bá trang trại và sản phẩm của 11 họ. Nghiên cứu này có thể được sử dụng làm cơ sở dữ liệu cho các nhà nghiên cứu, nông dân thành thị và người dân địa phương muốn đầu tư vào kinh doanh nông nghiệp đô thị nhà kính. Yiming Shao and partners (2022), “The potential of urban family vertical farming: A pilot study of Shanghai” (Tiềm năng của nông trại gia đình thẳng đứng ở đô thị: Một nghiên cứu thí điểm tại Thượng Hải) [143].
Công trình nghiên cứu đánh giá tính khả thi về kinh tế của nông trại gia đình thẳng đứng ở một khu dân cư mới xây dựng tại Thượng Hải - Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu chứng minh, nông trại gia đình thẳng đứng góp phần vào việc tăng khả năng tự cung cấp rau xanh lên tới 20,68% và trái cây là 2,54%. Các tác giả cho rằng, nông trại gia đình thẳng đứng ở đô thị có thể rất quan trọng để tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống thực phẩm địa phương. Bên cạnh đó, lợi nhuận đầu tư của nông trại gia đình thẳng đứng ở đô thị có thể lên tới 30%.
Mô hình kinh tế - kỹ thuật được đề xuất có thể hỗ trợ để dự đoán tốt hơn nông trại thẳng đứng quy mô nhỏ ở thành phố, cung cấp cơ sở để ra quyết định về PTNN đô thị bền vững. Nông trại gia đình thẳng đứng ở đô thị có thể mang lại sản lượng rau và trái cây đáng kể. Bằng cách sắp xếp một cấu trúc canh tác thẳng đứng đơn giản ở ban công và cửa sổ hướng Nam dựa vào ánh sáng tự nhiên, năng suất rau quả hàng năm có thể đạt 112,6 kg-147,4 kg.