phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về logistics – hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đƣờng biển theo pháp luật Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng vận chuyển hàng hóa trong dịch vụ logistics bằng vận tải đƣờng biển ở Việt Nam hiện nay. Chƣơng 3: Một số kiến nghị hoàn thiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa trong dịch vụ logistics bằng vận tải đƣờng biển theo pháp luật Việt Nam. Trong phạm vi luận văn của mình, những vấn đề tôi đƣa ra đƣợc tiếp cận chủ yếu dƣới góc độ lý thuyết có tham khảo một số tranh chấp nảy sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển bằng vận tải đƣờng biển trong dịch vụ logistics.
Rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp tích cực để việc nghiên cứu thêm hoàn chỉnh, đồng thời cũng là đóng góp giúp hoàn thiện Hợp đồng vận chuyển hàng hóa trong dịch vụ logistics bằng vận tải đƣờng biển góp phần thúc đẩy thƣơng mại quốc tế phát triển. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA BẰNG ĐƢỜNG BIỂN TRONG DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1 Những vấn đề cơ bản về logistics trong vận tải đƣờng biển 1.1 Khái niệm dịch vụ logistics Logistics hoàn toàn không phải là khái niệm quá xa lạ, cho dù một thực tế là cũng không phải nhiều ngƣời am hiểu sâu sắc về vấn đề này. Logistics đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhân loại. Ngày nay, logistics đã hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, mau chóng phát triển và mang lại thành công cho nhiều công ty và tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng trên thế giới.
Tuy nhiên, một điều thực tế là Logistics đƣợc phát minh và ứng dụng lần đầu tiên không phải trong hoạt động thƣơng mại mà là trong lĩnh vực quân sự. Napoleon đã từng định nghĩa: “Logistics là hoạt động để duy trì lực lƣợng quân đội”. Logistics đƣợc các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi trong hai cuộc đại chiến thế giới để di chuyển lực lƣợng quân đội cùng với một khối lƣợng lớn vũ khí và đảm bảo hậu cần cho lực lƣợng tham chiến. Hiệu quả của hoạt động logistics là yếu tố có tác động rất lớn tới thành bại trên chiến trƣờng [3,tr.
Đó là xét về phƣơng diện chiến tranh, còn về lĩnh vực kinh tế, sự phân công lao động xã hội xuất hiện làm cho nền sản xuất xã hội trở nên chuyên môn hóa thì một sự tất yếu đặt ra cho nhân loại là sự trao đổi hàng hóa, bởi lúc này con ngƣời không phải chỉ sản xuất những gì mình cần, mà còn sản xuất để phục vụ cho những đối tƣợng khác ở những vùng địa lý khác nhau. Để trao đổi đƣợc hàng hóa, con ngƣời có hai cách lựa chọn, hoặc là tìm đến nơi sản xuất, hoặc hàng hóa sẽ đƣợc đƣa đến nơi cần tiêu dùng. Lựa chọn thứ nhất có vẻ không khả thi xét trên phạm vi rộng, vì con ngƣời không phải lúc nào và địa điểm nào cũng đến đƣợc, do gặp cản trở về kinh tế, chi phí đi lại, giao thông, lãnh thổ biên giới quốc gia.Vì thế hàng hóa sẽ đƣợc mang đến những nơi có nhu cầu, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nơi có thể tiêu thụ đƣợc. Xuất phát từ những nhu cầu trong chiến tranh và của nền sản xuất nói trên, một hoạt động xã hội đã ra đời để đáp ứng, đó là hoạt động vận chuyển hàng hóa.
Cùng với sự phát triển vũ bão của nền sản xuất xã hội về cả số lƣợng và chất lƣợng thì đòi hỏi đặt ra đối với hoạt động vận chuyển ngày càng cao, không còn đơn thuần là sự dịch chuyển hàng hóa từ địa danh này đến địa danh khác trong phạm vi lãnh thổ hay đơn vị hành chính quốc gia. Các nhà sản xuất mở rộng phạm vi bán hàng cũng nhƣ nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào trên phạm vi toàn thế giới. Ví dụ nhƣ một hãng sản xuất máy bay tại Mỹ, để sản xuất một chiếc máy bay phải sử dụng hàng nghìn linh kiện khác nhau có xuất xứ từ hàng chục quốc gia khác, trong một cụm linh kiện có vô số chi tiết với nguồn gốc khác nhau, và máy bay của Mỹ thì đƣợc bán ra trên khắp toàn cầu. Chính từ sự chuyên biệt hóa lao động xã hội mà dần dần nhiệm vụ đặt ra cho các nhà sản xuất là tập trung sản xuất với quy mô phù hợp và chi phí thấp nhất, còn hoạt động thu mua nguyên vật liệu hàng hóa đầu vào, cũng nhƣ phân phối thành phẩm tới các kênh bán hàng, tới ngƣời mua sẽ do các thƣơng nhân trung gian với kinh nghiệm và kỹ năng chuyên biệt đảm nhiệm.
Vì thế mà xuất hiện một ngành dịch vụ mới, với nhiệm vụ cung cấp và phối hợp các dịch vụ đơn lẻ nhƣ vận chuyển, kho bãi, bốc xếp, khai thuê hải quan, bán buôn, bán lẻ.để tạo sự thống nhất giữa các hoạt động và tối ƣu hóa lợi nhuận cho sản xuất, nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Ngành dịch vụ này gọi là dịch vụ logistics. Ngày nay logistics đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp và mang lại giá trị kinh tế lớn cho quốc gia. Một đất nƣớc nghèo về tài nguyên và hạn chế về diện tích nhƣ Singapore, trong sự phát triển chung đã có sự đóng góp không nhỏ từ dịch vụ logistics.
Nhận thức đƣợc điểm hạn chế và những tiềm năng của mình, Singapore đã phát triển các hoạt 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động dịch vụ, trong đó có dịch vụ logistics, và hiện nay hải cảng Singapore là một trong những cảng biển chuyển tải container đông đúc nhất. Tuy có tầm quan trọng nhƣ vậy, nhƣng hiện nay cũng chƣa có một cách hiểu thống nhất về logistics. Mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực lại có quan điểm khác nhau về ngành dịch vụ này. Cùng với sự phát triển chung của toàn xã hội, logistics ngày càng đƣợc ứng dụng trong nhiều lĩnh vực và có nhiều biến thể mới khiến cho các quan niệm về logistics cũng luôn thay đổi.
Các khái niệm về logistics: Khái niệm logistics trong kinh doanh hay quân sự không hề có mối liên hệ nào với “logic” là khái niệm toán học. Theo từ điển American Heritage, nguồn gốc của từ này bắt đầu từ “logistique” trong tiếng Pháp, và từ “logistique” lại có gốc từ “loger” nghĩa là nơi đóng quân. Thoạt đầu logistics đƣợc sử dụng nhƣ một từ chuyên môn trong quân đội, với ý nghĩa là công tác hậu cần. Sau này, dần dần logistics đƣợc áp dụng đƣợc dùng trong lĩnh vực kinh tế.
Xuất phát từ tính đa dạng của hoạt động logistics mà hiện nay thế giới có nhiều định nghĩa về logistics, mà dƣới đây là một số điển hình. Từ điển American Heritage giải thích logistics trên hai phƣơng diện: kinh doanh và quân sự. Về quân sự, logistics là một hoạt động của quân đội, liên quan đến việc thu mua, phân phối, bảo quản, thay thế thiết bị và cả con ngƣời (The branch of military operations that deals with the procurement, distribution, maintenance, and replacement of materiel and personnel). Trong kinh doanh, logistics là việc quản lý các chi tiết của một quá trình hoạt động (The management of the details of an operation).
Từ điển Webster có định nghĩa khác, theo đó logistics là quá trình thu mua, bảo quản, phân phối thay thế con ngƣời và thiết bị (The procurement, maintenance, distribution, and replacement of personel and materiel). 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Council of Logistics Management – Hoa Kỳ [4; tr.22], logistics là một quá trình lập kế hoạch, thực thi và kiểm soát hiệu quả chi phí lƣu thông, tồn kho hàng hóa, dịch vụ và dòng thông tin liên quan từ điểm xuất phát ban đầu cho đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng (the process of planning, implementing, and controlling the efficient, effective flow and storage of goods, services, and related information from point of origin to point of consumption for the purpose of conforming to customer requirements). Năm 1988, Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC- The US. Logistics Administration Council) quan niệm “logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng” [5].
Theo tài liệu giảng dạy của trƣờng Đại học hàng hải thế giới thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” [6]. Chủ tịch học viện Nghiên cứu Logistics Georgia, Hoa Kỳ, ông Edward Frazelle thì cho rằng “Logistics là quá trình lưu chuyển của vật tư, thông tin và tiền tệ từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng” [7]. Định nghĩa mới nhất mà Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals- CSCMP) Hoa Kỳ đƣa ra năm 2001 là chính xác và toàn diện hơn cả, theo đó Logistics được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ,thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng [8]. Ở Việt Nam hiện nay, trên cả phƣơng diện khoa học cũng nhƣ luật pháp đều chƣa có một cách hiểu thống nhất về logistics.
Trƣớc đây, ngƣời ta quan niệm logistics là tổng hợp các hoạt động trong ngành giao nhận vận tải và kho bãi. Tuy nhiên, cách hiểu này đã thể hiện sự hạn chế, bởi lẽ trên thế giới ngành dịch vụ logistics đã có sự thể hiện vƣợt bậc, vƣợt ra ngoài khuôn khổ của hoạt động kho bãi, đƣợc ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế và đóng góp vào thành tựu phát triển chung của toàn nhân loại. Hiện tiếng Việt chƣa có một thuật ngữ nào có thể diễn đạt hết nội hàm của từ Logistics. Cũng nhƣ thuật ngữ Marketing, có lẽ chúng ta không nhất thiết phải tìm một thuật ngữ tiếng Việt tƣơng đƣơng, mà chỉ cần thống nhất cách hiểu về logistics.