LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập năm 1967 là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN. Kể từ thời điểm đó, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước thành viên ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Đặc biệt, sau khi AEC - Cộng đồng Kinh tế ASEAN thành lập, lộ trình giảm thuế, xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các quốc gia thành viên được thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho DN xuất khẩu Việt Nam. Nhờ vậy, kim ngạch XK vào thị trường này của Việt Nam tăng trưởng mạnh. Hiện có nhiều mặt hàng, nhất là hàng nông, lâm thủy sản chuyển hướng XK vào ASEAN và coi đây là thị trường trọng điểm. ASEAN là thị trường XK lớn thứ 4 của Việt Nam.
Năm 2019, kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam với ASEAN đạt 25,2 tỷ USD, chiếm 11,5% tổng kim ngạch XK. Trong đó, thị trường nhập khẩu chủ yếu là 4 nước gồm Singapore, Thái Lan, Malaysia và Indonesia với tổng giá trị NK năm 2019 đạt trên 15,6 tỷ USD, chiếm 62% tổng kim ngạch XK của Việt Nam trong ASEAN, dự kiến năm 2020 đạt khoảng 17-18 tỷ USD, tăng 10-15% với năm 2019. Để XK của DN Việt Nam diễn ra ổn định, NHTM đóng vai trò quan trọng trong cung cấp dịch vụ TTQT. Trong đó, thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức hạn chế rủi ro và cân bằng lợi ích các bên, nhất là với doanh nghiệp XK Việt Nam giao dịch với đối tác mới.
Trong phương thức này, bộ chứng từ thanh toán đóng vai trò gần như quyết định. Việc thực hiện dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ, suy cho cùng, là dịch vụ bộ chứng từ. Khi BCT phù hợp với quy định của thư tín dụng (LC), ngân hàng phát hành mới có nghĩa vụ thanh toán. BCT thanh toán tín dụng chứng từ XK khá đa dạng tùy thuộc từng mặt hàng và thị trường, bao gồm chứng từ phát hành bởi người hưởng lợi (nhà XK) như hối phiếu, hóa đơn, chứng nhận số lượng, chất lượng, phiếu đóng gói… và chứng từ phát hành bởi bên thứ 3 2 hoặc cơ quan có thẩm quyền như chứng từ vận tải (ví dụ BL phát hành bởi hãng tàu), chứng nhận xuất xứ hàng hóa, chứng nhận kiểm dịch, hun trùng… Do đó, có khá nhiều lỗi phát sinh khi khách hàng lập BCT thanh toán như: thiếu chứng từ, thông tin chứng từ không đầy đủ hoặc sai lệch so với LC…, dẫn đến rủi ro là thanh toán không được thực hiện.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam trong dịch vụ TTQT, đồng thời là một thương hiệu có uy tín rất cao với các định chế tài chính quốc tế. Trong thanh toán TDCT, Vietcombank có kinh nghiệm tư vấn, hỗ trợ nhiều doanh nghiệp XK, giúp khách hàng giảm thiểu tối đa thời gian, chi phí, đặc biệt là giảm thiểu rủi ro không được thanh toán. Dịch vụ bộ chứng từ thanh toán TDCT xuất khẩu Vietcombank cung cấp cho khách hàng gồm dịch vụ trước khi gửi chứng từ (tư vấn nội dung LC, tư vấn tạo lập chứng từ, kiểm tra chứng từ), dịch vụ gửi chứng từ và thanh toán (tạo lập thư đòi tiền, sửa đổi thư đòi tiền, cãi lỗi, tra soát thanh toán, thanh toán), dịch vụ sau thanh toán (tra soát phí, tra soát lỗi) và một số dịch vụ khác. Thông qua đó, khách hàng được tư vấn, hỗ trợ từ lúc chuẩn bị tạo lập BCT thanh toán phù hợp với LC cho đến khi thanh toán và sau khi thanh toán hoàn tất, nếu khách hàng muốn tra soát về phí hay thông tin khác.
Các nước ASEAN chiếm khoảng 13% trị giá thanh toán LC XK tại Vietcombank, trong đó, nhóm ASEAN - 4 bao gồm 4 nước Singapore, Thái Lan, Indonesia và Malaysia chiếm tới trên 80% trị giá thanh toán của toàn khu vực. Thời gian qua dịch vụ bộ chứng từ bộc lộ một số hạn chế: hệ thống công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu cho người dùng, quy trình nghiệp vụ chưa hoàn thiện, chính sách thu hút khách hàng chưa đạt hiệu quả mong đợi, vẫn còn lỗi tác nghiệp của cán bộ khi xử lý giao dịch. Trong bối cảnh XK sang khu vực này có khả năng mở rộng, để đáp ứng nhu cầu cũng như tăng sự hài lòng khách hàng, dịch vụ bộ chứng từ Vietcombank cần hoàn thiện về quy trình và nâng cao không ngừng chất lượng dịch vụ. Đây là vấn đề chưa có nhiều nghiên cứu ở Vietcombank.
Vì vậy, đề tài: “Dịch vụ bộ chứng từ thanh toán tín dụng chứng từ xuất khẩu với ASEAN - 4 3 tại Hội sở Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam” được chọn để nghiên cứu. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Các công trình nghiên cứu liên quan đến Thanh toán quốc tế: Hamed Alavi (2017) với nghiên cứu “Risk Analysis of credit operation” hệ thống hóa phương thức vận hành của thư TDCT và phân tích các rủi ro trong quá trình vận hành này. Ngô Diệu Hoa (2016) với luận văn thạc sỹ “Yếu tố đảm bảo thanh toán tập trung tại Trung tâm tài trợ thương mại - Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam” trình bày cơ sở lý luận về các yếu tố đảm bảo thanh toán tập trung, nghiên cứu thực trạng tại trung tâm TTTM ngân hàng công thương Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp đảm bảo các yếu tố cho hoạt động thanh toán tập trung tại đơn vị này. Nguyễn Trà My (2016) với luận văn thạc sỹ “Phát triển dịch vụ chuyển mạch TTQT ở Công ty Cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam" nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ mạch TTQT, thực trạng phát triển dịch vụ chuyển mạch TTQT tại Công ty CP Thanh toán Quốc gia Việt Nam, từ đó đề ra giải pháp phát triển dịch vụ.
Ngô Đức Thịnh (2016) với luận văn thạc sỹ “Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT tại Eximbank chi nhánh Hà Nội” đưa ra lý luận cơ bản thanh toán TDCT, nghiên cứu thực tế tại Eximbank chi nhánh Hà Nội, đề xuất giải pháp nhằm phát triển TTQT bằng LC. Chu Thanh Hải (2015) với luận văn thạc sỹ “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Hà Nội” nghiên cứu khách hàng cũng như tổng hợp đánh giá của họ về dịch vụ TTQT tại Eximbank Chi nhánh Hà Nội từ đề xuất giải pháp đáp ứng tốt hơn sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ TTQT cũng như các dịch vụ khác. Đỗ Thị Quỳnh Trang (2014) với luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu hành vi sử 4 dụng dịch vụ thanh toán quốc tế của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Sài gòn – Hà Nội” nghiên cứu thực trạng dịch vụ TTQT tại Ngân hàng TMCP Sài gòn - Hà Nội cùng các đối tượng khách hàng DN đang sử dụng dịch vụ tại ngân hàng để xác định cách thức sử dụng dịch vụ của họ, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng TTQT. Trình Gia Khởi (2014) với luận văn “Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức TDCT tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hà Nội” hệ thống hoá cơ sở lý luận TTQT và phương thức thanh toán TDCT của ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng hiệu quả TTQT theo phương thức TDCT tại Ngân hàng TMCP An Bình - Chi nhánh Hà Nội, chỉ ra hạn chế, khó khăn, nguyên nhân hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả TTQT theo phương thức TDCT tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội.
Bùi Thị Thu Hằng (2011) với luận văn thạc sỹ “Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đăk Lăk” hệ thống hóa cơ sở lý luận về TTQT của NHTM. Đồng thời, luận văn phân tích thực trạng TTQT giai đoạn 2007-2010 của VCB Đăk Lăk và đề xuất giải pháp phát triển TTQT tại Chi nhánh Đăk Lăk. Nguyễn Thị Thanh Hoa (2009) với luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội” nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về rủi ro và biện pháp phòng ngừa rủi ro trong thanh toán TDCT ở các NHTM, cụ thể hóa ở NH Quân Đội và đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro thanh toán TDCT tại Ngân hàng TMCP Quân đội. Ngô Thị Thu Nga (2007) với luận văn thạc sỹ “Kinh nghiệm quốc tế về bao thanh toán xuất khẩu và giải pháp đối với ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam” hệ thống hóa lý luận về dịch vụ bao thanh toán của tổ chức tín dụng trong nước và quốc tế, đánh giá thực trạng bao thanh toán của tổ chức tín dụng Việt Nam nói chung và Vietcombank nói riêng, đồng thởi vận dụng kinh nghiệm quốc tế vào phát 5 triển dịch vụ bao thanh toán tại Vietcombank.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến nhóm nước ASEAN - 4: Sree Kumar, Chik Warren B, Ng See-Kiong (2019) với nghiên cứu “The data economy: implications from Singapore” trình bày tác động dữ liệu số tại Singapore, khi công nghệ đóng vai trò chủ đạo và vai trò của con người ngày càng giảm đi. Từ việc nghiên cứu khả năng khai thác nguồn dữ liệu có sẵn của nhóm nhà khoa học, luật sư và kinh tế học, nghiên cứu chỉ ra tính thực tiễn và hạn chế của các nguồn dữ liệu có sẵn này, từ đó đề xuất chính sách quản lý nguồn tài nguyên thông tin để vừa truy cập dễ dàng nhưng vẫn bảo vệ được thông tin người dùng. Kobayashi Atsushi (2019) với nghiên cứu “Internation bimetallism and silver absorption in Singapore” nghiên cứu việc trao đổi kim loại bạc ở Singapore vào thế kỷ 19 thông qua phân tích giao dịch ngân hàng và thị trường chứng khoán. Apaitan Tosapol, Disyatat Piti, Samphantharak Krislert (2019) với nghiên cứu “Dissecting Thailand's International Trade: Evidence from 88 Million Export and Import Entries” sử dụng nguồn dữ liệu Thái Lan để nghiên cứu tính tập trung, chuyên môn hóa và thiếu bền vững của hoạt động XK.
Networks Asia (2017) với nghiên cứu “Singapore central bank, bank association appoint Accenture to develop DLT platforms for interbank payment” nghiên cứu việc sử dụng 3 nền tảng công nghệ để đề xuất giải pháp thanh toán liên ngân hàng ở Singapore.