Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Địa vị pháp lý của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong quản lý nhà nước về đất đai ở cơ sở" do sinh viên Nguyễn Thị Hạnh thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Dung tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023), thuộc ngành Luật học (chuyên ngành Luật Đất đai - Luật Hành chính). Đề tài thuộc loại hình nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp khảo cứu thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa bàn đô thị cụ thể.

Về bối cảnh thực tiễn, đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt và là thành phần quan trọng của môi trường sống, cấu thành không gian lãnh thổ quốc gia. Trong công cuộc đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, công tác quản lý nhà nước về đất đai tại Việt Nam bộc lộ nhiều điểm yếu kém, buông lỏng và sơ hở kéo dài, dẫn đến tình trạng khiếu kiện, lãng phí và sử dụng đất kém hiệu quả. Trong hệ thống bốn cấp hành chính (Trung ương, tỉnh, huyện, xã), Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp thực thi các quy định pháp luật và chuyển tải chính sách đất đai đến người dân. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của chính quyền cấp cơ sở tại các địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh và tính chất đất đai phức tạp như quận Tây Hồ (Hà Nội) còn tương đối hạn chế.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Tìm hiểu các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của UBND cấp xã trong công tác quản lý nhà nước về đất đai.
  2. Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đất đai ở cơ sở thông qua thực tiễn tại các phường thuộc địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
  3. Định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai của UBND cấp xã nói chung và trên địa bàn quận Tây Hồ nói riêng.

Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng bao gồm:

  1. Thống kê, làm rõ các chính sách pháp luật quy định về địa vị pháp lý, chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của UBND cấp xã trong công tác quản lý đất đai.
  2. Đánh giá thực trạng việc thực hiện các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong quản lý đất đai tại cơ sở.
  3. Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật nhằm xác định những tồn tại, bất cập nảy sinh trong quá trình thi hành ở cấp cơ sở.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư, quyết định của UBND thành phố Hà Nội) điều chỉnh địa vị pháp lý của UBND cấp xã và thực trạng áp dụng các quy định này trong thực tiễn quản lý đất đai. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào địa bàn quận Tây Hồ với 08 phường trực thuộc (Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ, Tứ Liên, Quảng An, Nhật Tân, Phú Thượng, Xuân La); phạm vi thời gian tập trung vào số liệu thực tế giai đoạn 2022 đến hết tháng 9/2023 (kết hợp các mốc số liệu thống kê dân số đến 30/11/2023 và hồ sơ địa chính lịch sử từ năm 1960 trở lại đây). Về nội dung, tác giả khu biệt vào các quyền hạn, nhiệm vụ trọng tâm: xác định nguồn gốc/tình trạng đất, quản lý đất công ích/đất bãi bồi, quản lý hồ sơ địa chính, hòa giải tranh chấp đất đai và xử lý vi phạm hành chính.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, khóa luận dựa trên nền tảng khoa học luật hành chính và luật đất đai. Tác giả vận dụng định nghĩa từ Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam để xác định địa vị pháp lý hành chính của UBND cấp xã là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính do pháp luật quy định, bảo đảm cơ sở pháp lý cho cơ quan này thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước ở địa phương. Khóa luận phân tích 05 đặc điểm bản chất của UBND cấp xã: là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; là bộ phận cấu thành nền hành chính quốc gia; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ theo địa giới hành chính; thực hiện quản lý hành chính đa ngành, đa lĩnh vực; và có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính cũng như thực hiện hành vi hành chính. Đặc biệt, nghiên cứu đặt trong bối cảnh UBND các phường tại Hà Nội vận hành theo mô hình chính quyền đô thị (thực hiện theo Nghị quyết số 97/2019/QH14 của Quốc hội và Nghị định số 32/2021/NĐ-CP của Chính phủ từ ngày 01/7/2021), làm việc theo chế độ thủ trưởng, công chức phường thuộc biên chế do UBND quận quản lý.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chủ chốt làm căn cứ nghiên cứu gồm:

  • Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản liên quan qua các thời kỳ (Luật Đất đai năm 1993).
  • Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
  • Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 148/2020/NĐ-CP; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP và Nghị định số 04/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
  • Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính.
  • Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về giải quyết tranh chấp đất đai; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 192).
  • Các văn bản phân cấp của UBND thành phố Hà Nội: Quyết định số 23/1998/QĐ-UB, Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND, Quyết định số 24/2022/QĐ-UBND về đấu giá quyền sử dụng đất; Chỉ thị số 04/CT-UBND ngày 14/01/2014 về tăng cường quản lý đất nông nghiệp, đất công.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp gồm:

  • Phương pháp phân tích luật học: Làm rõ khái niệm pháp lý, giải nghĩa các điều khoản quy định thẩm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của UBND cấp xã.
  • Phương pháp tổng hợp: Thống kê, xử lý và hệ thống hóa các chuỗi số liệu thực tế về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), phân loại đất, kết quả xử lý đơn thư khiếu nại và hồ sơ vi phạm hành chính.
  • Phương pháp bình luận: Đánh giá mối tương quan giữa quy định của pháp luật thực định với thực tiễn áp dụng tại cơ sở, chỉ ra các khoảng trống và điểm mâu thuẫn.
  • Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu: Thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp từ Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Tây Hồ và UBND các phường trên địa bàn quận.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về địa vị pháp lý của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và pháp luật về địa vị pháp lý của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong quản lý nhà nước về đất đai ở cơ sở

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về vị trí, tính chất và thẩm quyền của UBND cấp xã trong bộ máy nhà nước. Tác giả khẳng định quản lý nhà nước về đất đai của cấp xã mang tính tất yếu khách quan xuất phát từ vị trí của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và nhu cầu điều tiết trật tự sử dụng đất tại cơ sở. Nội dung pháp luật về địa vị pháp lý của UBND cấp xã được hệ thống hóa thành 05 nhóm quy phạm chính:

  1. Xác định nguồn gốc và tình trạng đất đai: Là khâu nghiệp vụ mở đầu nhưng quyết định tính hợp pháp của việc cấp GCNQSDĐ, đăng ký biến động và bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB).
  2. Quản lý quỹ đất công ích (đất 5%) và đất chưa sử dụng: Quy định trách nhiệm lập quỹ đất nông nghiệp công ích không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, lâu năm, nuôi trồng thủy sản theo Điều 132 Luật Đất đai 2013; quản lý mục đích sử dụng (xây dựng công trình công cộng, đền bù, nhà tình nghĩa, hoặc đấu giá cho thuê); quản lý và bảo vệ đất chưa sử dụng theo Điều 164, 165 Luật Đất đai 2013.
  3. Quản lý hồ sơ địa chính: Phối hợp lập, lưu trữ, cập nhật, chỉnh lý bản sao bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT nhằm bảo đảm cơ sở dữ liệu đất đai.
  4. Tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai: Quy định trình tự, thủ tục tiền tố tụng bắt buộc đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất theo Điều 202 Luật Đất đai 2013 và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP; quy trình hòa giải trong thời hạn không quá 45 ngày với thành phần Hội đồng hòa giải do Chủ tịch UBND cấp xã đứng đầu.
  5. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: Thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn, lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 208 Luật Đất đai 2013 và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP (mức phạt tiền tối đa của Chủ tịch UBND cấp xã là 5.000.000 đồng; áp dụng biện pháp buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất).

Chương 2: Thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý của UBND xã, phường, thị trấn trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai và thực tiễn tại một số phường thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội

Chương 2 phản ánh chi tiết các quy định pháp luật thực định và bức tranh thực tế tại quận Tây Hồ. Quận Tây Hồ được thành lập theo Nghị định số 69/CP ngày 28/10/1995 của Chính phủ, diện tích tự nhiên 2.438,2 ha (đất nông nghiệp 356,32 ha chiếm 14,61%; đất phi nông nghiệp 1.968,17 ha chiếm 80,72%; đất chưa sử dụng 113,71 ha chiếm 4,66%; diện tích Hồ Tây là 527,517 ha). Dân số quận tính đến ngày 30/11/2023 đạt khoảng 170.000 người. Quận gồm 08 đơn vị hành chính phường, hình thành từ việc sáp nhập 03 phường nội thành cũ của quận Ba Đình (Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ) và 05 xã nông thôn cũ của huyện Từ Liêm (Tứ Liên, Quảng An, Nhật Tân, Phú Thượng, Xuân La). Đặc thù 5/8 phường có đê sông Hồng, diện tích ngoài đê lớn, nhiều hộ nằm trong hành lang thoát lũ khiến công tác quản lý rất phức tạp.

Thực tiễn quản lý tại địa phương ghi nhận các kết quả cụ thể:

Công tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ: Lũy kế kết quả đăng ký đất đai (ĐKĐĐ) lần đầu trên địa bàn quận tính đến tháng 9/2023 được phản ánh qua bảng tổng hợp sau:

Phường Phú Thượng Xuân La Nhật Tân Tứ Liên Quảng An Bưởi Thụy Khuê Yên Phụ Tổng số
Số hồ sơ ĐKĐĐ lần đầu 349 1.054 507 1.032 1.058 182 248 1.577 6.007

Về công tác cấp GCNQSDĐ cho cá nhân, hộ gia đình trong năm 2022 và 09 tháng đầu năm 2023, toàn quận cấp được 91 GCNQSDĐ (Bưởi: 16, Nhật Tân: 16, Phú Thượng: 06, Xuân La: 16, Thụy Khuê: 13, Quảng An: 17, Tứ Liên: 04, Yên Phụ: 03). Đối với 182 cơ sở nhà đất công do phường quản lý, có 144 cơ sở đủ điều kiện cấp GCN (25 cơ sở đã cấp, 90 cơ sở đã nộp Sở TN&MT, 29 cơ sở đang hoàn thiện hồ sơ); 38 cơ sở không đủ điều kiện (09 cơ sở đã có Giấy xác nhận đăng ký đất đai, 06 cơ sở đã nộp Chi nhánh VPĐKĐĐ, 23 hồ sơ lưu tại phường). Đối với 23 cơ sở tôn giáo, 19 cơ sở đã nộp hồ sơ tại Sở TN&MT, 04 cơ sở vướng mắc chưa đủ điều kiện. Đối với 56 cơ sở tín ngưỡng, 36 cơ sở đã được cấp GCN, 01 nộp Văn phòng ĐKĐĐ, 18 đã có xác nhận ĐKĐĐ và 01 cơ sở còn vướng mắc.

Công tác quản lý đất nông nghiệp, đất công ích và bãi bồi: Toàn quận không giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64/CP do nằm trong quy hoạch đô thị; việc theo dõi dựa trên Sổ thuế nông nghiệp năm 2001 do HTX bàn giao năm 2020. Thống kê diện tích đất nông nghiệp tại các phường ghi nhận sự chênh lệch lớn:

Phường Phú Thượng Xuân La Nhật Tân Tứ Liên Quảng An Bưởi Thụy Khuê Yên Phụ
Diện tích đất nông nghiệp (ha) 18,48 31,73 130,19 128,38 32,26 0 0 4,89

Về đấu giá cho thuê đất công ích, mặt nước: Phường Quảng An đấu giá 04 điểm ao (ao Nghề, ao Va, ao Đầu Đồng, ao Thủy Sứ Trên), trong đó ao Đầu Đồng bị chấm dứt hợp đồng theo Thông báo số 193/TB-UBND do vi phạm, và đang đề nghị thẩm định đấu giá ao Lăng (văn bản số 475/UBND-ĐC ngày 06/10/2023). Phường Nhật Tân đấu giá thành công 03 trường hợp (Quyết định số 1385/QĐ-UBND ngày 30/5/2022 nộp ngân sách hàng năm 3.282.768 nghìn đồng; 01 trường hợp tại Đầm Bẩy nộp 670.820 đồng/năm; lập Đề án khai thác 83.928 m² bãi sông cuối ngõ 464 và 264 Âu Cơ). Phường Phú Thượng quản lý 85 thửa đất nông nghiệp công ích và bãi bồi (19 thửa đã trúng đấu giá theo Quyết định số 262/QĐ-UBND; 07 thửa tổ chức đấu giá tháng 11/2023; 10 thửa phải di chuyển cây cối để đấu giá lại; 07 thửa chưa đủ điều kiện đấu giá do chỉ có 01 khách hàng tham gia; 42 thửa chưa xây dựng phương án đấu giá).

Quản lý hồ sơ địa chính và kiểm kê đất đai: Hồ sơ địa chính bị thiếu đồng bộ do tiếp nhận từ các thời kỳ 1960, 1975, 1986, 1994; hầu hết các phường chưa có sổ địa chính chính thức mà chỉ có sổ mục kê (Quảng An, Nhật Tân, Xuân La, Phú Thượng, Tứ Liên) nhưng chưa chỉnh lý biến động. Dù Sở TN&MT đã đo đạc bản đồ địa chính mới cho 7/8 phường (trừ Xuân La đo năm 2005), hệ thống này vẫn chưa được nghiệm thu đưa vào khai thác sử dụng. Bảng số liệu thống kê đất đai quận Tây Hồ tính đến 30/9/2023 ghi nhận:

Phường Phú Thượng Xuân La Nhật Tân Tứ Liên Quảng An Bưởi Thụy Khuê Yên Phụ
Tổng diện tích (ha) 652,97 239,36 375,74 290,94 377,93 148,35 205,74 147,18
Đất nông nghiệp (ha) 18,48 31,73 130,19 128,38 32,26 0 0 4,89
Đất phi nông nghiệp (ha) 563,68 207,63 97,94 151,46 345,67 148,35 205,74 128,34
Đất chưa sử dụng (ha) 70,81 0 147,61 11,10 0 0 0 13,95

Tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai: Năm 2022 và 09 tháng đầu năm 2023, UBND 08 phường tiếp nhận và giải quyết 615/626 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh (Quảng An: 44/48, Xuân La: 116/119, Yên Phụ: 52/52, Thụy Khuê: 62/63, Bưởi: 76/76, Tứ Liên: 78/79, Phú Thượng: 120/122, Nhật Tân: 67/67). Các vụ việc điển hình gồm: vụ Bùi Văn Duyên - Trần Đình Hà tại phường Bưởi kéo dài hơn 20 năm đã hòa giải thành; vụ tranh chấp mương thoát nước tại tổ 11 Phú Thượng hòa giải thành; vụ Tạ Vũ Đan - Nguyễn Tư Cường và vụ Nguyễn Thu Minh - Công ty CP SX&XNK BB tại Phú Thượng hòa giải không thành, chuyển Tòa án giải quyết. Khó khăn chính là không có chế tài ràng buộc người cao tuổi sinh sống lâu đời tham gia Hội đồng hòa giải, việc giao giấy mời thiếu chứng cứ tống đạt dẫn đến Tòa án trả hồ sơ bắt hòa giải lại, và thiếu hướng dẫn khi vắng mặt người có quyền lợi liên quan.

Xử lý vi phạm hành chính: Tại phường Quảng An, rà soát 307/307 trường hợp đất nông nghiệp, xử lý 01 hồ sơ vi phạm cá nhân (ông Hoàng Văn Mai - tổ 3) và kiểm tra 03 tổ chức (Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tại số 1 ngõ 43 Âu Cơ, Công ty CP Phát triển TN tại số 33 Tây Hồ, Công ty CP XD&TVƯDCNM tại số 13+15 Tây Hồ). Tại phường Phú Thượng, xử lý trạm trộn bê tông Công ty Sông Đà - Việt Đức lấn chiếm 1,1124 ha đất chưa sử dụng ngoài bãi sông (bị phạt 110 triệu đồng theo Quyết định số 1461/QĐ-XPVPHC ngày 26/3/2018 nhưng không tự giác tháo dỡ, phường đã có Tờ trình cưỡng chế ngày 20/5/2022).

Chương 3: Định hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về địa vị pháp lý của UBND xã, phường, thị trấn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai

Khóa luận trình bày hệ thống định hướng và giải pháp gồm 03 nhóm nội dung trọng tâm:

  1. Định hướng hoàn thiện pháp luật: Bám sát chủ trương cải cách hành chính, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế quản lý đất đai phù hợp với Luật Đất đai sửa đổi và mô hình chính quyền đô thị.
  2. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật: Sửa đổi quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã (tăng mức phạt tiền vượt trần 5.000.000 đồng để tương xứng giá trị đất đô thị); cụ thể hóa quy chế hoạt động của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai, quy định rõ giá trị pháp lý bắt buộc thi hành của biên bản hòa giải thành; hoàn thiện khung pháp lý về quản lý quỹ đất nông nghiệp bãi bồi ven sông và tiêu chí đấu giá cho thuê đất công ích.
  3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật: Khẩn trương nghiệm thu và đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu hồ sơ địa chính số hóa; tăng cường tập huấn chuyên môn pháp lý cho cán bộ địa chính và tư pháp cấp phường; thắt chặt kiểm tra thực địa, ngăn chặn tình trạng xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp, đất thoát lũ ngoài đê sông Hồng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu quản lý đất đai trên địa bàn quận Tây Hồ với các chỉ số định lượng cụ thể:

  • Xác lập bức tranh phân bổ diện tích tự nhiên 2.438,2 ha của quận, chỉ rõ tỷ lệ nhóm đất phi nông nghiệp (80,72%), đất nông nghiệp (14,61%) và đất chưa sử dụng (4,66%), cùng quỹ đất bãi ven sông và diện tích mặt nước Hồ Tây (527,517 ha).
  • Thống kê chi tiết kết quả xử lý hồ sơ hành chính: 6.007 hồ sơ đăng ký đất đai lần đầu; 91 GCNQSDĐ cấp cho hộ gia đình/cá nhân trong giai đoạn 2022 - 9/2023; phân loại hiện trạng 182 cơ sở nhà đất công (144 cơ sở đủ điều kiện, 38 cơ sở không đủ điều kiện); rà soát 23 cơ sở tôn giáo và 56 cơ sở tín ngưỡng.
  • Đánh giá kết quả giải quyết khiếu nại, phản ánh đạt tỷ lệ 98,2% (giải quyết 615/626 đơn tiếp nhận trong năm 2022 và 09 tháng đầu năm 2023).
  • Phản ánh thực trạng quản lý 85 thửa đất công ích tại Phú Thượng và các hợp đồng đấu giá mặt nước tại Quảng An, Nhật Tân (thu ngân sách trên 3,28 tỷ đồng/năm từ các vị trí trúng đấu giá theo Quyết định số 1385/QĐ-UBND).

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất sửa đổi trần xử phạt hành chính của cấp xã, chuẩn hóa quy trình lập hồ sơ hòa giải tranh chấp tránh bị Tòa án bác bỏ, và sớm đồng bộ hóa dữ liệu địa chính số giữa cấp quận và phường.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc làm rõ mối liên hệ giữa thẩm quyền quản lý hành chính của UBND cấp xã theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 với thực tiễn mô hình chính quyền đô thị tại Hà Nội (theo Nghị quyết 97/2019/QH14 và Nghị định 32/2021/NĐ-CP). Công trình cung cấp số liệu thực chứng xác đáng về những khó khăn đặc thù tại các phường có địa bàn ngoài đê và quá trình chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đô thị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định một số giới hạn nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung chỉ tập trung phân tích các chức năng cơ bản của địa vị pháp lý trong quản lý đất đai (xác định nguồn gốc đất, quản lý đất công ích/đất bãi, hồ sơ địa chính, hòa giải tranh chấp, xử lý vi phạm hành chính), chưa bao quát toàn bộ các hoạt động quản lý chuyên ngành khác như lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất cấp cơ sở hay định giá đất cụ thể.
  • Nguồn dữ liệu bản đồ địa chính mới được đo đạc tại 7/8 phường thuộc quận Tây Hồ chưa được các cơ quan chức năng nghiệm thu và đưa vào vận hành chính thức tại thời điểm nghiên cứu, do đó chưa thể đánh giá toàn diện hiệu quả ứng dụng cơ sở dữ liệu số trên thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản bao gồm việc đánh giá tác động của Luật Đất đai sửa đổi (được lấy ý kiến nhân dân trong giai đoạn tác giả hoàn thành đề tài) đối với việc phân cấp thẩm quyền cho UBND cấp xã, và tổng kết mô hình chính quyền đô thị tác động đến công tác quản lý đất đai tại các quận khác của thành phố Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Đất đai, Luật Hành chính, Quản lý đất đai tham khảo mô hình phân tích kết hợp giữa lý luận pháp luật và số liệu thực tế cấp cơ sở.
  • Cán bộ, công chức địa chính, tư pháp - hộ tịch tại các xã, phường, thị trấn; đặc biệt là cán bộ phụ trách công tác hòa giải tranh chấp đất đai và xử lý vi phạm hành chính về trật tự xây dựng, đất đai.
  • Cơ quan xây dựng chính sách và chính quyền địa phương đang áp dụng mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội và các đô thị lớn.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là tiểu mục phân tích thực tiễn hòa giải tranh chấp đất đai và quản lý quỹ đất bãi bồi, đất công ích ven sông tại Chương 2, nơi tác giả nêu cụ thể từng vụ việc, nguyên nhân tranh chấp kéo dài, lỗ hổng pháp lý trong việc triệu tập người dân sinh sống lâu đời và các biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân.

Câu hỏi thường gặp

1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về đất đai của Chủ tịch UBND cấp xã bị giới hạn ở mức tiền phạt nào theo Nghị định số 91/2019/NĐ-CP?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền tối đa đến 5.000.000 đồng, tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch hoặc giấy tờ giả, và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm.

2. Quận Tây Hồ có đặc điểm tự nhiên và phân loại cơ cấu đất đai như thế nào trong văn bản?
Quận Tây Hồ có tổng diện tích tự nhiên là 2.438,2 ha, bao gồm: đất nông nghiệp 356,32 ha (chiếm 14,61%), đất phi nông nghiệp chiếm 80,72%, đất chưa sử dụng 113,71 ha (chiếm 4,66%), và diện tích mặt nước Hồ Tây rộng 527,517 ha. Quận có 5/8 phường có đất nằm ngoài đê sông Hồng thuộc hành lang thoát lũ.

3. Quỹ đất nông nghiệp công ích (đất 5%) tại cấp xã được sử dụng vào những mục đích cụ thể nào theo Luật Đất đai 2013?
Theo khoản 2 Điều 132 Luật Đất đai 2013, quỹ đất nông nghiệp công ích được sử dụng vào 03 mục đích: (1) Xây dựng các công trình công cộng của xã, phường, thị trấn (văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí công cộng, y tế, giáo dục, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa); (2) Bồi thường cho người có đất được sử dụng để xây dựng các công trình công cộng; (3) Xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa. Phần diện tích chưa sử dụng vào các mục đích này mới được UBND cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân thuê sản xuất nông nghiệp qua hình thức đấu giá.

4. Những vướng mắc chủ yếu trong công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND các phường thuộc quận Tây Hồ là gì?
Văn bản chỉ rõ 03 khó khăn chính: (1) Khó mời đại diện các hộ dân sinh sống lâu đời tham gia Hội đồng hòa giải do họ không có trách nhiệm công vụ và e ngại va chạm; (2) Việc gửi giấy mời cho các bên đương sự thiếu tài liệu chứng minh họ đã nhận được giấy mời, dẫn đến việc Tòa án nhân dân xác định thủ tục hòa giải chưa hợp lệ và yêu cầu tổ chức lại; (3) Thiếu quy định, hướng dẫn cụ thể về việc xử lý khi hòa giải vắng mặt hoặc xác định thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

5. Kết quả tiếp nhận và giải quyết đơn thư về đất đai tại 08 phường thuộc quận Tây Hồ trong năm 2022 và 09 tháng đầu năm 2023 đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Trong giai đoạn này, UBND 08 phường đã tiếp nhận và giải quyết được 615 trên tổng số 626 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của nhân dân liên quan đến đất đai, đạt tỷ lệ giải quyết 98,2% (trong đó các phường Bưởi, Yên Phụ, Nhật Tân giải quyết đạt tỷ lệ 100%).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hạnh đã làm rõ khung lý luận và nội dung pháp luật điều chỉnh địa vị pháp lý của UBND cấp xã trong quản lý nhà nước về đất đai ở cơ sở. Thông qua khảo sát thực tế toàn diện tại 08 phường thuộc quận Tây Hồ giai đoạn 2022 - 2023, nghiên cứu đã phản ánh chân thực các kết quả đạt được về đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ, quản lý đất bãi ven sông và hòa giải tranh chấp, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn về hồ sơ địa chính và thẩm quyền xử phạt hành chính. Công trình đưa ra các kiến nghị lập pháp và giải pháp thực thi có căn cứ khoa học, đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng cho việc hoàn thiện thể chế đất đai và nâng cao năng lực quản trị hành chính cấp cơ sở.