phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án đƣợc kết cấu 4 chƣơng, 10 tiết. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Giới thiệu Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi và giá trị của Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Nhận diện giá trị, vai trò của Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi trong đời sống văn hóa cộng đồng Chƣơng 4: Bàn luận về phát huy giá trị, vai trò Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi trong đời sống văn hóa cộng đồng luan an 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Là một trong những di sản văn hóa nổi bật của Thành phố, KDTLSĐĐCC không chỉ là hiện thân, chứng tích trƣờng tồn về tinh thần thép, ý chí bất khuất, sự sáng tạo của quân và dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc mà còn có giá trị văn hóa rộng lớn, trở thành biểu tƣợng anh hùng của dân tộc mà cả nƣớc tự hào. Chính vì vậy, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về KDTLSĐĐCC.
Các nhà nghiên cứu đã tiếp cận nghiên cứu KDTLSĐĐCC ở nhiều góc độ khác nhau. Dƣới góc độ nghiên cứu của luận án, NCS khái quát phần tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án "Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh trong đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay" theo những vấn đề cơ bản dƣới đây. Những công trình nghiên cứu về di sản văn hóa trong đời sống văn hóa cộng đồng Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay của tác giả Hoàng Vinh [118] đã đƣa ra định nghĩa đời sống văn hóa và trên cơ sở đó, tác giả đƣa cấu trúc của đời sống văn hóa bao gồm: sản phẩm văn hóa, thể chế văn hóa, các dạng hoạt động văn hóa và những con ngƣời văn hóa. Cùng tác giả Hoàng Vinh trong công trình Những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay [119] đã đề cập đến mấy vấn đề về xây dựng ĐSVHCĐ ở nƣớc ta hiện nay.
Tác giả đã phân kỳ quá trình hình thành và phát triển sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng ở Việt Nam theo 03 giai đoạn: phong trào hoạt động văn hóa quần chúng trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc (1945 - 1975); Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ luan an 8 sở (cộng đồng) trong bƣớc đi ban đầu thời kỳ cả nƣớc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1976 - 1990); Xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng trong điều kiện cơ chế thị trƣờng, định hƣớng xã hội chủ nghĩa (1990 - trở đi). Từ đó, tác giả đã khẳng định xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng là một nhiệm vụ chiến lƣợc của Đảng và Nhà nƣớc muốn đƣa sản phẩm văn hóa tới tận ngƣời dân tạo điều kiện để họ thực hiện quyền làm chủ trên lĩnh vực sáng tạo và hƣởng thụ phúc lợi văn hóa. Viện Văn hóa và Phát triển (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) trong Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng [115], đã góp thêm một cái nhìn về đời sống văn hóa. Theo đó, đã đƣa ra định nghĩa về đời sống văn hóa cũng nhƣ cấu trúc của ĐSVH.
Cuốn Văn hóa và phát triển ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Viện Văn hóa và phát triển (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) [116] có bài viết về xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng ở nƣớc ta hiện nay. Bài viết nhấn mạnh công tác xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng luôn đƣợc Đảng cộng sản và Nhà nƣớc Việt Nam đặc biệt coi trọng. Nó đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nƣớc. Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra quan niệm về cộng đồng và văn hóa cộng đồng.
Công trình Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của tác giả Nguyễn Hữu Thức [102], đã đề cập đến khái niệm đời sống văn hóa, trên cơ sở lý luận xác đáng đánh giá thực trạng hoạt động phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH. Bài viết Về khái niệm đời sống văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Lan [57] cũng đã đƣa ra khái niệm về đời sống văn hóa. Đồng thời nhấn mạnh đời sống văn hóa bao gồm những hoạt động sản xuất và tiêu thụ, sáng tạo và hƣởng thụ các giá trị văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của con ngƣời, thông qua các thiết chế văn hóa và các thể chế văn hóa. Bên cạnh luan an 9 đó, tác giả đã đƣa ra mô hình cấu trúc đời sống văn hóa bao gồm: con ngƣời văn hóa, nhu cầu văn hóa, hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa.
Cuốn sách Văn hóa Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của tác giả Trần Thị Kim Cúc [25], đã nêu lên cơ sở lý luận về phát triển đời sống văn hóa cộng đồng, trong đó đã làm rõ: đời sống văn hóa, đời sống văn hóa cộng đồng, phát triển ĐSVHCĐ. Làm rõ ý nghĩa cũng nhƣ nội dung phát triển ĐSVHCĐ. Trong công trình Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống văn hóa, môi trường văn hóa do Đinh Vân Chi chủ biên [23], tập hợp 20 bài viết của các nhà quản lý, nghiên cứu văn hóa. Ở cuốn sách này, khái niệm đời sống văn hóa đƣợc đề cập chủ yếu là về quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa và sử dụng các giá trị văn hóa đã đƣợc sáng tạo đó vào trong cuộc sống thực tiễn, làm rõ các thành tố cấu thành ĐSVHCĐ, xác định đặc điểm, vai trò, chức năng của ĐSVH và thực tiễn xây dựng ĐSVH, môi trƣờng văn hóa nông thôn, đô thị, văn hóa gia đình, trƣờng học, nơi công cộng… ở nƣớc ta.
Cuốn sách Đời sống văn hóa thanh niên đô thị ở nước ta hiện nay của đồng tác giả Nguyễn Thị Hƣơng và Vũ Thị Phƣơng Hậu [54] đã đƣa ra nhận thức khái niệm đời sống văn hóa có tính phổ biến. Bên cạnh đó, làm rõ cấu trúc của đời sống văn hóa thanh niên đô thị với các thành tố: chủ thể hoạt động văn hóa, hệ thống các thiết chế và sản phẩm văn hóa và các hoạt động văn hóa. Bài báo Khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa của tác giả Trần Đức Ngôn [66] khẳng định đời sống văn hóa là sự chiếm lĩnh của con ngƣời đối với môi trƣờng văn hóa thông qua các hoạt động cụ thể để từ đó hình thành nhân cách. Mỗi cá nhân có một đời sống văn hóa riêng.
Tuy nhiên, đời sống văn hóa cá nhân khi đi theo cùng một xu hƣớng thì sẽ hình thành đời sống văn hóa cộng đồng. Về cấu trúc tồn tại, đời sống văn hóa có thể đƣợc phân chia thành hai cấp độ: cấu trúc bề mặt là diện mạo của đời sống văn hóa, bao gồm: các hoạt động tiếp nhận - hƣởng thụ văn hóa, các hoạt động thực hành - truyền bá văn hóa, các hoạt động sáng tạo văn hóa. Cấu trúc bề sâu là bản luan an 10 chất của đời sống văn hóa, bao gồm: các giá trị nhận thức, các giá trị tƣ tƣởng, các giá trị tình cảm. Hai cấu trúc này tác động ảnh hƣởng lẫn nhau.
Trong mỗi cấu trúc, các thành tố cũng đều có mối quan hệ biện chứng. Cuốn sách Di sản văn hóa trong xã hội Việt Nam đương đại của nhiều tác giả [70], các bài viết trong cuốn sách là những trƣờng hợp nghiên cứu về đa dạng các loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của ngƣời Việt và các tộc ngƣời thiểu số trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam của nƣớc ta. Với những góc tiếp cận khác nhau về những vấn đề đặt ra đối với di sản văn hóa của Việt Nam trong bối cảnh xã hội đƣơng đại. Đó là những sự vận động, thay đổi của di sản văn hóa dƣới tác động đa chiều của những sự biến chuyển về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa.
Những vấn đề về hội nhập văn hóa, sáng tạo truyền thống, phục hồi di sản, bảo tồn di sản, khai thác di sản trong bối cảnh mới. Đó là những thuận lợi và thách thức, những sự đồng thuận và mâu thuẫn trong vấn đề nhìn nhận về di sản văn hóa hiện nay. Một số luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học đề cập đến khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa, đời sống văn hóa cộng đồng cũng nhƣ di sản văn hóa trong đời sống cộng đồng. Ví dụ nhƣ, Nguyễn Duy Hùng trong Lễ hội Phủ Dày trong đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay [52] đề cập khái quát đến khái niệm đời sống văn hóa, đời sống văn hóa cộng đồng; nghiên cứu, đánh giá những ảnh hƣởng, tác động và vai trò của loại hình lễ hội này đối với đời sống văn hóa cộng đồng.
Nguyễn Thị Thanh Mai trong luận án Lý Nam Đế trong đời sống văn hóa của cư dân vùng châu thổ Bắc Bộ [62] đã tập trung làm rõ về khái niệm đời sống văn hóa cũng nhƣ cấu trúc của đời sống văn hóa, bên cạnh đó, đã làm rõ về hình tƣợng ngƣời anh hùng dân tộc Lý Nam Đế trong đời sống văn hóa của cƣ dân vùng châu thổ Bắc Bộ, tìm hiểu vai trò cũng nhƣ quá trình vận động, biến đổi của hiện tƣợng văn hóa này trong đời sống văn hóa từ xƣa đến nay. Do mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên những vấn đề nghiên cứu về luan an 11 đời sống văn hóa và ĐSVHCĐ cũng chƣa có tiếng nói thống nhất. Tuy nhiên, những thành tựu nghiên cứu trên đây đã giúp tác giả luận án có điều kiện để tiếp thu, kế thừa phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của mình. Những công trình nghiên cứu về hệ giá trị Cuốn sách Giá trị học của tác giả Phạm Minh Hạc [41], đã cung cấp cơ sở lý luận để đúc kết và xây dựng Hệ giá trị chung của ngƣời Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa theo hƣớng hiện đại, mở cửa hội nhập với khu vực, với thế giới.