Chương 1: Một số van đề lý luận về pháp luật bao mật giao dịch điện tử và nên kinh tế Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo mật giao dịch điện tử trong nên kinh tế số. Chương 3: Thực trạng thực thi pháp luật và một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo mật giao dịch điện tử trong nên kinh tế số tại Việt Nam. 12 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUAT BẢO MAT GIAO DICH DIEN TU VA NEN KINH TE SO 1. Khai quat chung vé giao dich dién tir 1.
Khái niệm và đặc điểm của giao dich điện tử Thứ nhất, khái niệm giao dịch điện tử Theo Từ điển tiếng Việt “giao dich” có nghĩa là “có quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc với nhau”. Còn “điện tử” đề chỉ “những dụng cụ được chế tạo theo các phương pháp điện tử học hoặc hoạt động trên các nguyên lý của điện tử học”!. Kết hợp các thuật ngữ này có thể hiểu: “Giao dịch điện tử là sự tiếp xúc, trao đổi giữa hai hoặc nhiều chủ thé thông qua các dung cụ được chế tạo theo phương pháp điện tu học hoặc hoạt động cua các nguyên lý của điện tử học”. Khái niệm này dẫn đến suy luận bất kỳ mỗi quan hệ nào được xác lập giữa hai chủ thể trở lên thông qua các cộng cụ hoạt động theo nguyên lý điện tử học thì đều được coi là giao dịch dân sự ngay cả nội dung các cuộc hội thoại, giao tiếp hàng ngày.
Việc dừng lại ở cách hiểu này sẽ không biết được chủ thê tham gia giao dịch là ai và nguyên lý của điện tử học là như thế nào. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): “Giao dich điện tử bao gom việc sản xuất, quảng cáo, ban hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mang Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm được giao nhận cũng như thông tin số hóa thông qua mạng Internet”?. Ngoài ra, theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hop tác kinh tế châu A — Thái Binh Dương (APEC) định nghĩa: “Giao dich điện tử liên quan đến các giao dich thương mại trao doi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (các nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nên tảng dựa trên Internet)”: Theo Ủy ban châu Âu: “Giao địch điện tử có định nghĩa chung là sự mua ban, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bang các giao dich điện tử thông qua mang Internet hay các máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến).
Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyên hàng hay dịch vụ cudi cùng có thê thực hiện trực tuyên hoặc ! Xem: Hoàng Phê chủ biên, “Tir điển Tiếng Việt”, NXB Da Nẵng, 2003 ? Xem: The Work Programme on Electronic Commerce "The term 'elecfronic commerce' is understood to mean the production distribution marketing sale or delivery of goods and services by electronic means", WTO, 1998 3 Xem: Bach Việt Quý, “Hệ mật khóa công khai va an ninh giao dịch điện tử, an toàn thư tin điện tr’, Luan van thạc sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Bách Khoa, 2018 13 bằng phương pháp thủ công?”. Như vậy, có thê thấy điểm chung của các khái niệm trên của các tổ chức là: Giao dich điện tử được thiết lập bởi chủ thé có thé là cá nhân, doanh nghiệp, hộ gia đình, tổ chức tư nhân nhằm mục đích trao đổi, mua bán hang hoá hay dịch vụ thông qua các hệ thông nền tảng dựa trên mạng Internet. Trong pháp luật Việt Nam, văn bản pháp lý đầu tiên về GDĐT là Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 44/2002/QD-TTG ngày 21 tháng 3 năm 2002 về van đề chấp nhận chữ ký điện tử trong thanh toán liên ngân hàng. Hiện nay văn bản có giá trị cao nhất trong điều chỉnh các GDDT ở nước ta là luật giao dịch điện tử 2005 và đã định nghĩa giao dịch điện tử như sau: “Giao dich điện tử là giao dich được thực hiện bằng phương tiện điện tur” (theo Khoản 6 Điều 4).
Như vậy, chúng ta có thé hiểu được GDĐT ở đây trước hết phải là một giao dich dân sự được quy định tại BLDS 2015: “Giao dich dan sự là hop dong hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm ditt quyên, nghĩa vụ dân sự” (Theo Điều 116). Theo đó, GDĐT bao gồm là hợp đồng điện tử và hành vi pháp ly đơn phương được thực hiện qua các phương tiện điện tử. Hợp đồng điện tử là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của hai hay nhiều chủ thé làm phát sinh, thay đổi hoặc làm cham dứt quyên, nghĩa vu dân sự thông qua phương tiện điện tử. Như vậy, GDĐT có thể là hợp đồng điện tử như là hợp đồng điện tử mua bán tai sản, hợp đồng điện tử trao đổi tài sản, hợp đồng điện tử vay tài sản, hợp đồng điện tử thuê tài sản, hợp đồng điện tử về dịch vụ,.
GDĐT là hành vi pháp lý đơn phương khi đây là các giao dịch thê hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm làm phat sinh, thay đổi, cham dứt quyền nghĩa vụ thông qua phương tiện điện tử. Khác với hợp đồng điện tử cần có sự thỏa thuận tối thiêu hai bên chủ thé dé xác lập thì hành vi pháp ly đơn phương chỉ cần sự tuyên bố ý chí của một bên chủ thể. Các hành vi pháp lý đơn phương thông qua phương tiện điện tử như nộp thuế thu nhập cá nhân qua mạng hay doanh nghiệp kê khai hải quan. Theo đó, tùy từng trường hợp, chúng ta cần xác định rõ GDĐT là hành vi pháp lý đơn phương hay là hợp đồng điện tử dé đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho chủ thê tham gia.
4 “Ecommerce co be defined generally as the sale or purchase of goods or services, whether between businesses, households, individuals or private organizations, through electronic transactions conducted via the internet or other computer-mediated (online communication) networks”. 14 Qua việc tìm hiểu các khái niệm về giao kết hợp đồng điện tử, có thể thấy các quan điểm trên mặc dù có cách diễn đạt khác nhau nhưng tat cả đều đi đến chung bản chất của giao dịch điện tử /a một qua trình giao dich được thực hiện qua các phương tiện điện tu. Như vậy, “giao dịch điện tử là giao dịch dân sự bao gôm hợp dong hoặc hành vi pháp lý đơn phương được thực hiện thông qua các phương tiện điện tứ `. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nhóm tác giả tập trung phân tích vẫn đề bảo mật hợp đồng điện tử, vẫn đề bảo mật hành vi pháp lý đơn phương điện tử được nghiên cứu trong các công trình khác.
Thứ hai, đặc điểm của giao dịch điện tử Từ những khái niệm về GDDT, dưới góc độ khoa học pháp lý, nhóm tác giả nhận thay GDĐT van có bản chất như một giao dịch truyền thống như: (i) giao dich dân sự luôn thé hiện ý chí của chủ thé trong giao dich; (ii) hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự đều hướng đến phát sinh, thay đổi, cham dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự cho các chủ thể. Bên cạnh đó, giao dịch điện tử còn có một sô dâu hiệu nhận diện đặc thù như”: 5 Xem: Link truy cập anh: https://luatvietnam.vn/doanh-nghiep/thuong-mai-dien-tu-561-29272-article.html, ngày truy cập: 14/03/2022 5 Xem: Nguyễn Ngọc Quyên, “Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch điện tử ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012 15 Thứ nhất, các bên trong GDĐT không trực tiếp tiếp xúc với nhau mà thực hiện giao dich qua phương tiện điện tứ. Khi tham gia giao dịch dan sự thông thường các bên phải gap gỡ nhau trực tiếp dé tiễn hành đàm phán và ký kết hợp đồng. Còn trong giao dịch điện tử nhờ việc sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng toàn cầu, chủ yếu là sử dụng mạng Internet, nên các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể đàm phán, giao dich được với nhau dù cho các bên tham gia giao dịch đang ở bat cứ quốc gia nào.
Quá trình giao kết hợp đồng có thể bao gồm nhiều bước từ tìm kiếm bạn hàng, giới thiệu sản phâm, chảo hàng, đàm phán hợp đồng, ký kết hợp đồng. Nếu như được thực hiện theo cách thức truyền thống, trực tiếp gặp mặt thì sẽ tốn rất nhiều thời gian và chi phí, tuy nhiên, chỉ cần sử dụng phương tiện điện tử là các bên đã có thê thực hiện tất cả quá trình trên trong thời gian ngắn và không cần thiết phải tiếp xúc với nhau, tiết kiệm được chi phí và nhân lực rất nhiễu. Thứ hai, giao dịch bằng phương tiện điện tử cho phép các bên thực hiện giao dịch 24/24 giò, tat cả các ngày trong năm va không bị giới han bởi phạm vi dia lý. Giao dich điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới, hay thị trường toàn cầu.
Các bên trong giao dịch có thể đang ở những quốc gia khác nhau nhưng chỉ cần một cú nhấp chuột khi vào website chính phủ, website bán hàng, một bản fax là các bên đã có thể tiễn hành giao dịch. Chính vì lẽ đó mà chính phủ có thê tối ưu các quy trình và thủ tục hành chính hay các doanh nghiệp dé dàng và nhanh chóng tiếp cận được với khách hàng, lựa chọn được nhà cung ứng tốt nhất và những đối tác kinh doanh phù hợp nhất. Thứ ba, trong GDĐT phải có tối thiểu ba chủ thể tham gia, bao gồm các bên tham gia giao dịch và sự tham gia của bên thứ ba đó là các cơ quan cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực, đây là những người tạo môi trưởng cho các giao dịch điện tử. Với đặc trưng là được thực hiện thông qua phương tiện điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ mạng cần phải bảo đảm duy trì hệ thông mạng luôn ở trong trạng thái tốt để phục vụ cho các nhu cau giao dich ở khắp mọi nơi trên thé giới, nếu hệ thống mạng gặp van đề trục trac, ngay lập tức sẽ anh hưởng đến việc giao dịch của các bên liên quan.
Ngoài ra, các cơ quan chứng thực sẽ đảm bảo các hợp đồng được ký kết không thê bị giả mạo và bị phủ nhận nếu có tranh chấp phát sinh.