Tài liệu Giáo dục: Đề tài nghiên cứu khoa học nâng cao chất lượng dạy học

Đề tài nghiên cứu khoa học nâng cao chất lượng dạy học tiếng anh ở phân hiệu trường đại học nội vụ hà nội tại thành p phục vụ nghi

Chuyên ngành

Tiếng Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài khoa học cấp phân hiệu

2022

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tính Cấp Thiết Của Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Nâng Cao

Đề tài nghiên cứu khoa học nâng cao đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển chất lượng giáo dục đại học hiện nay. Theo Nghị quyết Trung ương II khoá VIII, giáo dục và đào tạo cần có bước chuyển nhanh về chất lượng và hiệu quả. Việc nâng cao chất lượng dạy-học tiếng Anh tại các trường đại học là một trong những ưu tiên hàng đầu. Với xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển của công nghệ 4.0, tiếng Anh trở thành phương tiện giao tiếp không thể thiếu. Các yêu cầu về đầu ra của sinh viên ngày càng cao, với mức độ tương đương B1 theo khung năng lực ngoại ngữ. Đề tài khoa học cấp phân hiệu giúp xác định những thách thức trong dạy-học và đưa ra giải pháp cải thiện hiệu quả dạy học.

1.1. Vai Trò Của Giáo Dục Đại Học Trong Phát Triển Nhân Lực

Giáo dục đại học là nền tảng tạo ra nguồn nhân lực có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo. Chất lượng giáo dục trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là yêu cầu cấp bách. Các trường đại học cần nâng cao tiêu chuẩn đào tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động quốc tế.

1.2. Yêu Cầu Về Kỹ Năng Tiếng Anh Trong Thời Đại 4.0

Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá. Theo thống kê năm 2019, 82 trên 195 quốc gia sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức. Kỹ năng tiếng Anh trở thành yêu cầu bắt buộc cho sinh viên. Sinh viên cần đạt mức B1 để đủ điều kiện tốt nghiệp. Giáo dục đại học phải cập nhật phương pháp dạy học hiện đại.

II. Mục Tiêu Và Nhiệm Vụ Của Đề Tài Nghiên Cứu

Mục tiêu đề tài là nâng cao chất lượng dạy-học tiếng Anh tại Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài tập trung vào việc phân tích hiện trạng dạy và học tiếng Anh, từ đó đưa ra những giải pháp cải thiện hữu hiệu. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: đánh giá chất lượng dạy tiếng Anh của giảng viên, đánh giá chất lượng học tiếng Anh của sinh viên, xác định mối liên hệ giữa dạy và học. Nhóm nghiên cứu gồm các giảng viên có kinh nghiệm, được hỗ trợ bởi lãnh đạo Phân hiệu. Đề tài khoa học cấp phân hiệu năm 2022 hướng tới nâng cao hiệu quả đào tạo ngôn ngữ, tạo điều kiện cho sinh viên phát triển toàn diện.

2.1. Phạm Vi Và Đối Tượng Nghiên Cứu

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP.HCM. Đối tượng bao gồm giảng viên dạy tiếng Anh và sinh viên các khóa học. Phương pháp luận sử dụng kết hợp định tính và định lượng, bao gồm phỏng vấn, khảo sát, phân tích dữ liệu. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phiếu điều tra cho giảng viên và sinh viên, đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao.

2.2. Phương Pháp Luận Và Cách Tiếp Cận

Phương pháp luận của đề tài khoa học kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn. Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát, phỏng vấn chuyên sâu, và phân tích thông tin có hệ thống. Cách tiếp cận lấy sinh viên và giảng viên làm trung tâm, xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy-học. Kết quả nghiên cứu được tổng hợp để đưa ra các khuyến nghị thực tiễn.

III. Cơ Sở Lý Luận Về Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh

Chất lượng dạy-học tiếng Anh trong trường đại học là kết quả của sự tương tác giữa giảng viên, sinh viên và các yếu tố hỗ trợ. Chất lượng giáo dục được định nghĩa là mức độ đạt được các mục tiêu giáo dục theo các tiêu chuẩn xác định. Trong giáo dục đại học, chất lượng dạy tiếng Anh phụ thuộc vào năng lực giảng viên, phương pháp giảng dạy, tài liệu học tập, và cơ sở vật chất. Chất lượng học tiếng Anh của sinh viên phản ánh mức độ tiếp thu kiến thức, phát triển kỹ năng ngôn ngữ, và khả năng áp dụng trong thực tế. Mối quan hệ giữa dạy và học là mối quan hệ biện chứng, trong đó dạy tốt là điều kiện để học tốt, và ngược lại học tốt cũng giúp cải thiện phương pháp dạy.

3.1. Khái Niệm Chất Lượng Giáo Dục Đại Học

Chất lượng giáo dục là tiêu chí đo lường hiệu quả của hệ thống giáo dục. Giáo dục đại học không chỉ truyền tải kiến thức mà còn phát triển năng lực, kỹ năng cho sinh viên. Chất lượng dạy-học được đánh giá thông qua các tiêu chuẩn: nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, kết quả học tập, và sự hài lòng của sinh viên. Việc nâng cao chất lượng là quá trình liên tục, đòi hỏi sự cải tiến không ngừng.

3.2. Mối Liên Hệ Giữa Dạy Và Học Tiếng Anh

Chất lượng dạychất lượng học có mối liên hệ chặt chẽ. Giảng viên có trách nhiệm thiết kế bài học, sử dụng phương pháp hiệu quả, tạo môi trường học tập tích cực. Sinh viên cần chủ động học tập, tham gia hoạt động, và áp dụng kiến thức vào thực tế. Đề tài khoa học phân tích mối quan hệ này để xác định các yếu tố cải thiện hiệu quả dạy-học tổng thể.

IV. Các Đề Xuất Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh

Dựa trên kết quả điều tra và phân tích, đề tài khoa học đưa ra các đề xuất cải thiện cho từng đối tượng liên quan. Đối với Phân hiệu, cần xây dựng chương trình đào tạo hiện đại, đầu tư cơ sở vật chất, tạo điều kiện phát triển chuyên môn cho giảng viên. Tổ chuyên môn tiếng Anh cần tổ chức các hoạt động ngoài lớp, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, và cập nhật các phương pháp mới. Giảng viên phải nâng cao trình độ chuyên môn, sử dụng công nghệ trong dạy học, và tạo môi trường học tập hỗ trợ. Sinh viên cần chủ động tự học, tham gia câu lạc bộ tiếng Anh, và thực hành kỹ năng thường xuyên.

4.1. Đề Xuất Cho Phân Hiệu Trường Đại Học

Phân hiệu nên đầu tư nâng cao chất lượng dạy-học bằng cách xây dựng chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế. Cần cấp bổ sung tài liệu giảng dạy hiện đại, phần mềm học tập, và thiết bị công nghệ. Tổ chức các khóa đào tạo nâng cao trình độ tiếng Anh cho giảng viên, khuyến khích học tập bằng tiếng Anh. Tạo quỹ hỗ trợ sinh viên tham gia các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế.

4.2. Đề Xuất Cho Giảng Viên Và Sinh Viên

Giảng viên cần liên tục cập nhật phương pháp dạy học hiện đại, sử dụng Learning Management System (LMS) và công nghệ số trong giảng dạy. Tạo môi trường lớp học tương tác, khuyến khích sinh viên tham gia thảo luận. Sinh viên nên tự chủ động học tập, tham gia câu lạc bộ tiếng Anh, thực hành ngoài lớp, và hướng đến đạt chứng chỉ B1 trước khi tốt nghiệp.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY-HỌC TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Chất lượng, chất lượng giáo dục và giáo dục đại học 1. Các khái niệm về chất lượng Từ chất lượng (quality) bắt nguồn từ từ ‘qualis’ trong tiếng Latin, có nghĩa là “loại gì”. Đây là một từ đa nghĩa và nhiều hàm ý, một khái niệm khó nắm bắt [20].

Với một số người, “chất lượng” cũng giống như câu “Cái đẹp vốn “nằm trong mắt của người thưởng thức”. Những người này cho rằng chất lượng chỉ là vấn đề tương đối, trong khi một số khác cho rằng chất lượng bao gồm nhiều thành tố xác định khác nhau; nói cách khác chất lượng là một cái gì đó hoàn toàn khách quan. Theo Viện tiêu chuẩn Anh quốc (British Standards Institution, (BSI), chất lượng là “toàn bộ các đặc trưng cũng như tính chất của một sản phẩm hoặc một dịch vụ giúp nó có khả năng đáp ứng những yêu cầu được xác định rõ hoặc ngầm hiểu” [17]. giải thích theo quan niệm truyền thống, chất lượng liên quan tới khái niệm sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt và đặc biệt và mang lại danh tiếng cho chủ sở hữu và người sử dụng [18].

Họ cũng đề cập tới năm khía cạnh của chất lượng trong giáo dục: chất lượng là sự vượt trội (hay sự xuất sắc); chất lượng là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không có sai sót), chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng); chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền (trên khía cạnh đáng giá để đầu tư); và chất lượng là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác” [18]. Quan niệm của Tổ chức Bộ trưởng Đông Nam á (SEAMEO- Southest Asian Ministers of Education Organization) thì chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” [6]. Muran, chất lượng bao gồm những đặc điểm của sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng và tạo ra sự thỏa mãn đối với khách hàng” [5]. 9 Nguyễn Kim Định (2010) cho rằng “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” [4].

Qua các định nghĩa trên, có thể thấy các khái niệm về chất lượng có những đặc điểm chính như sau: - Chất lượng mang tính tuyệt đối; - Chất lượng mang tính tương đối; - Chất lượng mang tính đặc trưng; - Chất lượng mang tính khác biệt và đặc biệt; - Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu; - Chất lượng là một quá trình; - Chất lượng là sự phù hợp nhu cầu khách hàng; - Chất lượng là khả năng đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu khách hàng. Trên cơ sở tham khảo và phân tích các khái niệm và các khía cạnh về chất lượng, nhóm tác giả đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: Chất lượng là kết quả của một quá trình hoạt động được phản ánh qua các đặc trưng khác biệt và đặc biệt của sản phẩm hoặc dịch vụ để phù hợp với mục tiêu và thỏa mãn yêu cầu của khách hàng. Chất lượng giáo dục và các thành tố tạo nên chất lượng GD 1. Giáo dục Từ điển Oxford Learner’s Dictionaries định nghĩa giáo dục (education) là quá trình giảng dạy, đào tạo và học tập, đặc biệt ở các trường đại học và cao đẳng, để nâng cao kiến thức và phát triển kỹ năng [19].

Từ điển tiếng Việt định nghĩa giáo dục là “quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho người ta những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần thiết về tự nhiên và xã hội, cũng như những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết trong đời sống” [8]. Võ Quang Phúc và Lê Nguyên Long (1986) xem giáo dục là một hiện tượng xã hội phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố: xã hội; gia đình và trường học; tập thể và cá nhân; người giáo dục và người được giáo dục; quản lý giáo dục và tác động giáo dục. Bùi 10 Ngọc Hồ (2008) cho rằng giáo dục là quá trình tác động vào con người có kế hoạch, có mục đích rõ rệt là làm cho con người phát triển về nhiều mặt, đáp ứng nhu cầu xã hội mà họ đang sống [7]. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm giáo dục như sau: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà trường, gia đình , xã hội, tập thể và cá nhân vào quá trình giảng dạy, đào tạo con người, đặc biệt ở các trường cao đẳng và đại học, nhằm nâng cao kiến thức và phát triển năng lực, kỹ năng, để làm cho con người phát triển về nhiều mặt và đáp ứng nhu cầu xã hội mà họ đang sống 1.

Chất lượng giáo dục. Chất lượng ngày càng trở lên quan trọng đối với các cơ sở giáo dục đại học. Chất lượng trong giáo dục đại học là khái niệm mang tính trừu tượng và không phải là một khái niệm đơn chiều về chất lượng học thuật. Nó được xem là một khái niệm đa chiều theo quan điểm về nhu cầu và mong đợi của nhiều bên liên quan.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng giáo dục tùy theo từng thời điểm; giữa những người quan tâm: sinh viên, giảng viên, người sử dụng lao động, các tổ chức tài trợ, và các cơ quan kiểm định; và tình trạng phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học của Hoa Kỳ, Anh và nhiều nước khác đang sử dụng khái niệm “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”. Một số tổ chức khác vận dụng khái niệm “chất lượng là sự xuất sắc” để so sánh chất lượng giáo dục đại học giữa các quốc gia hay giữa các trường đại học khác nhau [6]. TS Tô Bá Trượng thuộc Viện chiến lược và Chương trình giáo dục cho rằng chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục [1].

Bàn về vấn đề này, PGS.TSKH Bùi Mạnh Nhị (Trường đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) thì cho rằng, cách hiểu phổ biến hiện nay về chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra. 11 Theo Phạm Văn Dũng, chất lượng giáo dục có thể được hiểu là kết quả của quá trình giáo dục, đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo ở bậc giáo dục đó [3]. Thông tư 61/2012/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo định nghĩa “Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu của cơ sở giáo dục hoặc chương trình giáo dục, đáp ứng các yêu cầu của Luật giáo dục, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước [2]. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về chất lượng và chất lượng giáo dục, nhóm tác giả đưa ra nhận định về chất lượng giáo dục như sau: Chất lượng giáo dục là kết quả của một quá trình giáo dục được phản ánh qua các đặc trưng khác biệt và đặc biệt của sản phẩm hoặc dịch vụ giáo dục để phù hợp với mục tiêu của các cơ sở giáo dục và phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.

Các thành tố tạo nên chất lượng GD Dựa vào quan điểm của UNESCO chất lượng và quản lí chất lượng có những thành tố: Hoàn cảnh nhà trường (Môi trường KT-XH, chính sách, điều kiện văn hóa…); Đầu vào (con người, CSVC, tài chính, PP dạy học, quản lí); Quá trình (xây dựng kế hoạch chất lượng, thực hiện kế hoạch, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, tác động cải tiến chất lượng); Đầu ra (Kết quả GD gồm năng lực, phẩm chất của người học; tỉ lệ lên lớp, tốt nghiệp…đáp ứng yêu cầu XH). Chất lượng đầu ra ở một nhà trường cũng thường được nhận diện thông qua khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức người học chiếm lĩnh được, kỹ năng kỹ xảo thực hành trang bị cho người học, năng lực nhận thức và năng lực tư duy của người học, phẩm chất nhân văn của người học. Trên cơ sở các thành tố trên, người ta thường dựa vào các yếu tố sau để đánh giá về chất lượng giáo dục : 12 (1) Chất lượng đầu vào: trình độ đầu vào thỏa mãn các tiêu chí, mục tiêu đề ra. (2) Chất lượng quá trình GD: mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy và học và các quá trình GD khác.

(3) Chất lượng đầu ra: mức độ đạt được của đầu ra (chất lượng HS ở cuối quá trình GD; HS chuyển cấp hay ra trường.) so với chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt được quy định cho từng môn học. (4) Chất lượng sản phẩm: mức độ đạt các yêu cầu của học sinh tốt nghiệp qua đánh giá của chính bản thân học sinh, của cha mẹ, của địa phương và của xã hội. Giáo dục đại học, chất lượng giáo dục đại học và các tiêu chí đánh giá chất lượng GDĐH 1. Giáo dục đại học.

Theo Ronald Barnett (1992), có bốn khái niệm thông dụng nhất về giáo dục đại học: • Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn; • Giáo dục đại học là để trở thành nhà nghiên cứu; • Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả; • Giáo dục đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học [21]. Như vậy, nhóm tác giả rút ra khái niệm giáo dục đại học như sau: Giáo dục đại học là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà trường, gia đình , xã hội, tập thể và cá nhân vào quá trình quản lý và tổ chức giảng dạy, đào tạo con người ở các trường đại học nhằm tạo ra nguồn nhân lực đạt chuẩn, giúp cho con người phát triển về nhiều mặt và đáp ứng nhu cầu xã hội mà họ đang sống. Chất lượng giáo dục đại học Đối với GDĐH có một định nghĩa thể hiện rõ nhất nội hàm của khái niệm chất lượng đó là quan điểm của tổ chức đảm bảo chất lượng GD đại học quốc tế 13 (INQAAHE - International Network of Quality Assurance Agencies in Higher Education) : Chất lượng trong giáo dục có thể hiểu thông quan 2 khía cạnh : (1) Tuân theo các chuẩn quy định đối với GDĐH. (2) Đạt được các mục tiêu đề ra cho quá trình GDĐH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ