CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Cao su thiên nhiên là một chất có tính đàn hồi và tính bền, thu được mủ (latex) của nhiều loại cây cao su, đặc biệt nhất là loaị cây Hevea brasiliensis. Vào năm 1875 nhà hóa học Pháp Bouchardat chứng minh cao su thiên nhiên là một hỗn hợp polymer isoprene (C5H8)n; những polymer này có mạch carbon rất dài với những nhánh ngang tác dụng như cái móc. Các mạch đó xoắn lẫn nhau, móc vào bằng những nhánh ngang mà không đứt khi kéo dãn, mạch carbon có xu hướng trở về dạng cũ, do đó sinh ra tính đàn hồi.1 Tổng quan về latex cao su thiên nhiên Trong công nghiệp cao su, cao su là nguyên liệu quan trọng nhất, nó quyết định phần lớn tính năng sử dụng của sản phẩm.
Do đó việc lựa chọn loại cao su, phân cấp loại cao su là điều rất cần thiết. Nước ta là một nước sản xuất cao su thiên nhiên vì thế nguồn nguyên liệu này không bao giờ cạn kiệt. Ngoài ra đối với các yêu cầu sử dụng thông thường, nhất là để làm săm lốp xe, ngay cả săm lốp xe tải, sử dụng cao su thiên nhiên vẫn cho sản phẩm có tính năng ưu việt. Nếu pha chế đúng cách, độ mài mòn của lốp xe vẫn không thua các lốp xe làm bằng cao su tổng hợp.
Từ những hạt cao su đầu tiên di nhập được trồng thành công tại Việt Nam vào năm 1897, đến nay, cây cao su đã có vị thế vững chắc trong ngành nông nghiệp và ngành công nghiệp Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao công nghệ chế biến, cải thiện điều kiện xã hội vùng nông thôn và phủ xanh gần 1 triệu ha. Trong thiên nhiên có rất nhiều cao su thuộc nhiều loại thực vật khác nhau. Chúng thích hợp với khí hậu vùng nhiệt đới, đặc biệt là miền Bắc Mỹ, Brasil, Trung Mỹ, Châu Phi, từ Maroc đến Madagasca, Sri Lanka, miền Nam Ấn, Việt Nam, Lào và Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Trong số các loại cây cao su, đặc biệt loại được ựa chuộng nhất là cây Hevea brasiliensis, cung cấp khoảng 95-97% cao su thiên nhiên toàn thế giới.
Đây là giống cao su được trồng chủ yếu ở nước ta. Nguyễn Hưng Thủy Trường Đại học Công Thương TPHCM – Khoa CNHH 1.1 Định nghĩa và thành phần cấu tạo Latex cao su là một trạng thái nhũ tương (thể sữa trắng đục) của các hạt phân tử cao su (pha phân tán) trong môi trường phân tán lòng. Ở Việt Nam, latex được gọi là mủ cao su nước. Công thức cấu tạo: Hình 1.1 Công thức cấu tạo của latex Cao su thiên nhiên Công thức hóa học của latex: phân tử cơ bản của cao su là isoprene polymer (cis- 1,4-polyisoprene [C5H8]n) có khối lượng phân tử 105-107.
Nó được tổng hợp từ cây bằng một quá trình phức tạp của carbohydrate. Cấu trúc hóa học của cao su tự nhiên (cis-1,4 polyisoprene): Hình 1.2 Cấu trúc hóa học của cao su tự nhiên (cis-1,4 polyisoprene) Latex cao su thiên nhiên (NR): hay nói chính xác là latex cao su Polyisoprence thiên nhiên thu hoạch từ cao su thiên nhiên, chủ yếu là loại Hevea Brasiliensis (thuộc họ Euphorbiaceae), bằng phương pháp cạo mủ. Cấu tạo latex bao gồm: Pha phân tán: là các hạt tử cao su polyisoprene - được tổng hợp bằng con đường sinh học (điều khiển bằng hệ thống enzim). Chính vì thế Polyisoprene thu được có những tính ưu việt về cấu trúc- điều hòa lập thể rất cao: 100% đồng phân dạng cis, khối lượng phân tử lớn và đồng nhất, mức độ kết bó chặt chẽ,.
Hàm lượng các hạt từ cao su tùy theo đặc tỉnh sinh lý của cây dao động từ 25-54%. Môi trường phân tán: là serum lòng có thành phần phức tạp bao gồm thành phần chủ yếu là nước (52-70%), protein (2-3%), acid béo và dẫn xuất (1-2%), glucid và hetorosid (khoảng 1%), khoáng chất (0,3-0,7%). Nguyễn Hưng Thủy Trường Đại học Công Thương TPHCM – Khoa CNHH Bảng 1.1 Thành phần hóa học của cao su latex Thành phần Phần trăm (%) Cao su 28-40 Protein 2,0-2,7 Đường 1,0-2,0 Muối khoáng 0,5 Lipit 0,2-0,5 Nước 55-65 Mật độ cao su 0,932-0,952 Mật độ serium 1,031-1,035 1.2 Cao su sơ chế Mủ lấy từ cao su về nhà máy chế biển có hai dạng: mủ nước và mủ phụ. Mủ nước ở dạng lỏng có thêm chất chống đông thường là Amoniac 3% và formal nồng độ 5%.
Mủ nước dùng để sơ chế thành cao su tờ xông khói RSS và cao su bún, cốm hạng SVR 3L và SVR 5, SVR CV, crepe nhạt màu. Mủ phụ là mủ đã bị đông gồm mủ chén, mủ miệng, mủ đất,., mủ phụ sơ chế thành crepe nâu, cao su bún cốm hạng SVR 10 và SVR 20. Năm 1615, con người bắt đầu biết đến cao su qua sách có tựa đề “ De la monarquia Indian " của Juan de Torquemada, viết về lợi ích và công dụng của cây cao su, nói đến một chất có tên là "ulei" do dân địa phương Mexico chế tạo từ mủ cây gọi là "ule" mà họ dùng làm vải quần áo không thấm nước. Theo dân tộc Maina chữ nguyên thủy của cao su nghĩa là nước mắt của cây.
Năm 1743, Franscois Fresneau đã có những bản vẽ mô tả về cây cao su và không ngừng tím cách nghiên cứu chiết rút cao su, chính ông là người đầu tiên đề nghị sử dụng nguyên liệu này. Năm 1761, hai nhà hóa học Pháp tên là Herissant và Macquer đã hòa tan được cao su với dung môi là ether và tinh dầu thông. Năm 1791, Samuel Peal đưa ra sáng chế làm áo mưa từ cao su, nhưng việc chế tạo áo mưa chỉ được xem là mạnh vào sau năm 1823, năm mà Macintosh sử dụng naphtha như là một dung môi. Năm 1819, Thomas Hancock (Anh) khám phá ra quá trình nghiền và cán dẻo cao su, tuy nhiên cao su lúc bấy giờ có tính năng rất thấp.
Nguyễn Hưng Thủy Trường Đại học Công Thương TPHCM – Khoa CNHH 1839, Charles Goodyear (Hoa Kỳ) phát minh ra quá trình lưu hóa cao su bằng lưu huỳnh, cao su đã cãi thiện tính năng cơ lý cũng như bền nhiệt. Đây là bước ngoặt và là phát minh vĩ đại nhất trong ngành công nghiệp cao su. Có thể nói nhờ hai phát minh của Hacook (nghiền hóa dẻo) và của Goodyear (lưu hóa) mà kỹ thuật cao su phát triển mạnh mẽ. Tiếp theo sau là việc phát minh ra cao su tổng hợp.Công nghiệp cao su tiến triển mạnh mẽ như hiện nay cũng một phần lớn nhờ các cuộc khám phá tiếp nối sau này, đặc biệt như khám phá ra chất xúc tiến lưu hóa, chất phòng lão, chất độn tăng cường và phát minh ra các phương pháp gia công chế biến cao su.
Công nghệ sản xuất cao su kỹ thuật bắt đầu phát triển mạnh mẽ để hỗ trợ cho tất cả các ngành khoa học kỹ thuật từ sau phát minh ra quá trình lưu hóa. Bắt đầu từ đây, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai phát triển mạnh mẽ và đạt vô số những thành tựu mà cuộc cách mạng khoa học lần thứ nhất không thể với tới. Hầu hết các thành tựu khoa học kỹ thuật trong giai đoạn này đều có sự hỗ trợ đắc lực của các vật liệu cao su kỹ thuật, đặc biệt các miếng đệm kỹ thuật, joint kỹ thuật dùng cho ngành hành không vũ trụ, cơ khí ôtô, máy công cụ,. Cây cao su đầu tiên du nhập vào Đông Dương là do ông J.B Louis Pierre đem trồng tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn năm 1877, những cây này hiện nay đã chết.
Năm 1897, dược sĩ Raoul lấy những hạt giống tại Java đem về gieo trồng tại Ông Yệm (Bến Cát). Một số đồn điền do bác sĩ Yersin lấy giống ở Colombo đem gieo trồng tại viện Pasteur tại Suối Dầu (Nha Trang) năm 1899-1903, từ đó các đồn điền khác được mở rộng.2 Đông đặc mủ cao su và bảo quản 1.3 Sự đông đặc cao su latex Latex tươi nếu để ngoài trời sẽ tự nhiên đông đặc lại. Hiện tượng này là do các enzyme hay vi khuẩn biến đổi hóa học mà gây ra. Nếu đo pH latex tươi, sẽ thấy PH sẽ giảm xuống cho đến lúc latex đông đặc.
Đông đặc bằng cách khuấy trộn : Khi ta khuấy trộn mạnh và kéo dài, latex sẽ bị đông đặc. Việc khuấy trộn đã làm cho động năng trung bình của các hạt phân tử cao su tăng lên; động năng này đạt tới một trị số đủ để khống chế được lực đẩy điện từ và vô hiệu hóa lớp protein hút nước. Khi latex được cho thêm vào chất có tác dụng 4 GVHD: Ths. Nguyễn Hưng Thủy Trường Đại học Công Thương TPHCM – Khoa CNHH giảm độ ổn định latex như oxide kẽm, sự đông đặc sẽ được gia tốc.
Hiện nay, dùng phương pháp khuấy trộn cơ học như là một thí nghiệm chứng minh hiện tượng về độ ổn định của latex, nhưng tỉ số giữa độ ổn định cơ lý và độ ổn định hóa học thì chưa được xác định rõ.4 Bảo quản cao su latex Mù nước chuyển đến xí nghiệp được đưa vào các bể lắng có kích thước lớn, tại đây mù nước được khuấy trộn để làm đồng nhất các loại latex từ các nguồn khác nhau; đây là giai đoạn sơ khởi kiểm tra việc tiếp nhận. Ở gia đoạn này, tiến hành đo trọng lượng mù khô và thành phần NH3 còn lại trong mủ. Mù tạp dễ bị oxi hóa nếu đề ngoài trời, nhất là phơi dưới ánh nắng, chất lượng mù sẽ bị giảm. Khi đem về phân xưởng, mù tạp được phân loại, ngâm rửa trong các hồ riêng biệt, để tránh bị oxi hóa và làm mất đi một phần chất bẩn.
Tùy theo phẩm chất từng loại mù có thể ngâm tối đa là 7 ngày và tối thiểu là 12 giờ. Mù tạp ngoài ngâm nước có thể ngâm trong dung dịch hóa chất (acid clohidric, acid axalic, các chất chống lão hóa) để tránh phân hủy cao su. Các loại mù dây, mù đất được nhặt riêng, trước khi tồn trữ được rửa sạch bằng cách cho qua giàn rửa có chứa dung dịch hóa học, thích hợp để tẩy các chất đơ, loại bỏ tạp chất.3 Lý thuyết về bột màu vô cơ 1.5 Khái niệm về bột màu vô cơ Bột màu vô cơ (pigment) là những hợp chất vô cơ không hòa tan trong dung môi, được sử dụng chủ yếu để tạo ra màu sắc cho các sản phẩm như sơn, nhựa, cao su, mực in và vật liệu xây dựng. Các bột màu vô cơ thường sở hữu đặc tính ổn định cao về màu sắc, khả năng chống chịu nhiệt, ánh sáng và hóa chất, làm cho chúng trở thành sự lựa chọn phổ biến trong nhiều ngành công nghiệp.
Pigment được sản xuất từ các nguyên liệu khoáng chất tự nhiên hoặc tổng hợp từ những quá trình hóa học.