CHƯƠNG 1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ỨNG DỤNG CNTT TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND CẤP TỈNH TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. KHÁI NIỆM CNTT VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Khái niệm CNTT CNTT là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn.
CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin. Vì lý do đó, những người làm việc trong ngành này thường được gọi là các chuyên gia CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant), và bộ phận của một công ty hay đại học chuyên làm việc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT. Ở Việt Nam thì khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin của chính phủ việt nam và trở thành luật CNTT của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 67/2006/QH 11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 như sau: “công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
CNTT 1 Luan van 8 được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá”. Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài thì CNTT được hiểu là công nghệ hiện đại dựa trên hệ thống máy tính và viễn thông để khai thác, sử dụng thông tin một cách có hiệu quả nhất. Đặc điểm ngành CNTT Các nhà kinh tế học từ lâu đã nhận thức rằng CNTT và sự phát triển kinh tế là hai yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ. Nhà kinh tế người Mỹ Thomas Friedman trong tác phẩm “Thế giới là phẳng” đã khẳng định “CNTT là một trong những yếu tố then chốt tạo nên làn sóng toàn cầu hóa thứ ba và làm cho thế giới trở nên phẳng (1) Ngành CNTT, với sự phát triển mạnh mẽ, đã thật sự là một trong những ngành công nghiệp chiến lược cho sự phát triển của thế giới nói chung và của từng quốc gia nói riêng.
Nghiên cứu về ngành CNTT, có thể thấy ngành CNTT có các đặc điểm sau: Ngành công nghệ có tốc độ phát triển cao, vòng đời sản phẩm ngắn, chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao, tính tích hợp cao, cơ sở hạ tầng, đặc biệt máy tính và thiết bị viễn thông có vai trò đặc biệt quan trọng. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ ỨNG DỤNG CNTT TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CỦA UBND CẤP TỈNH TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm ứng dụng CNTT tại các cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh trong quản lý hành chính nhà nước Ứng dụng công nghệ thông tin vào một hoạt động nào đó được hiểu là việc sử dụng công nghệ thông tin trong tổ chức triển khai hoạt động đó nhằm đạt được mục đích của hoạt động này với hiệu quả mong đợi. Với đặc trưng 1 Luan van 9 của CNTT là công cụ hỗ trợ cơ bản và hữu hiệu hiện nay, tất cả các hoạt động của con người đều có nhu cầu và có thể ứng dụng CNTT để đạt được mục đích với chi phí về thời gian, tài chính thấp nhất và độ tin cậy cao nhất.
Hay nói cách khác ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước là nhúng toàn bộ hoạt động Nhà nước vào môi trường điện tử, sử dụng internet và công nghệ Internet để mở rộng khả năng truy cập và cung cấp dịch vụ công của chính quyền đến công dân, doanh nghiệp và công chức. Thông qua đó các cơ quan quản lý nhà nước có thể quản lý, tiếp cận một cách dễ dàng hơn và phục vụ người dân hiệu quả hơn và có trách nhiệm hơn. Người dân chấp hành quy định và thực hiện trách nhiệm của mình thông qua môi trường đó. Trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước của nước ta hiện nay, UBND cấp tỉnh là cơ quan hành pháp thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước ở địa phương.
Nhiệm vụ của UBND cấp tỉnh là tổ chức và chỉ đạo việc thi hành Hiến pháp, Luật; các văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Quyền hạn và nhiệm vụ của UBND cấp tỉnh được thể hiện trên 8 lĩnh vực quan trọng là Kinh tế, ngân sách, tài chính; Nông, lâm, ngư, thuỷ lợi và đất đai; Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; Giao thông vận tải; Xây dựng và quản lý phát triển đô thị; Thương mại, dịch vụ, du lịch; và Giáo dục, đào tạo, văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, xã hội và đời sống. Để triển khai thực hiện nhiệm vụ của mình, UBND có các cơ quan chuyên môn. Các cơ quan chuyên môn này thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là các sở và tương đương và các tổ chức mang tính đặc thù riêng của địa phương. Đặc trưng hoạt động của cơ quan chuyên môn 1 Luan van 10 là chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là mối tương tác quan hệ giữa kết quả thu được (đầu ra) sao cho tối đa so với chi phí thực hiện kết quả đó (đầu vào) sao cho tối thiểu. Cơ chế hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước được thể hiện qua hình sau: Đầu vào Đầu ra (dịch vụ + Bên ngoài: (thông Vận hành: hành chính công) tin, công nghệ, tài + Phục vụ các cơ Bố trí nhân sự, chính) quản lý điều hành quan hành chính + Bên trong (nhân cùng cấp, cấp trên, thông tin, kỹ lực, trang bị, ngân cấp dưới.
thuật, tài chính sách, tài sản công) + Phục vụ cho người dân và doanh nghiệp Hình 1-1: Cơ chế hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Ứng dụng CNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan hành chính nhà nước và giữa các cơ quan hành chính nhà nước, trong giao dịch của cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch. Ứng dụng CNTT trong các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nhằm phục vụ 02 lĩnh vực chính: 1 Luan van 11 Ứng dụng CNTT phục vụ các cơ quan hành chính cùng cấp, cấp trên, cấp dưới (G2G), tập trung vào tin học hóa các hoạt động, quy trình nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu công tác tại mỗi cơ quan. Theo đó có một số ứng dụng G2G cơ bản như hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống quản lý thông tin, hệ thống nghiệp vụ cơ bản cần được ưu tiên triển khai theo hướng hiệu quả hơn và mở rộng kết nối. Ứng dụng phục vụ người dân và doanh nghiệp (G2B và G2C) là việc hướng tới việc phục vụ người dân và doanh nghiệp một cách thuận tiện nhất, tốn ít công sức và thời gian nhất có thể, thông qua hệ thống các dịch vụ hành chính công trực tuyến mức độ 2, 3,4 và các hệ thống một cửa điện tử.
Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan hành chính nhà nước hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan hành chính nhà nước đó quản lý. Dịch vụ công trực tuyến là: dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan hành chính nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng theo các mức độ sau Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 trở lên là là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 trở lên là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
1 Luan van 12 Dịch vụ công trực tuyến từ mức độ 3 trở lên là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Dịch vụ công trực tuyến từ mức độ 4 trở lên là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến.
Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng. Hệ thống một cửa điện tử là một ứng dụng tin học hóa các giao dịch giữa tổ chức, cá nhân với cơ quan hành chính nhà nước và giữa các cơ quan hành chính nhà nước theo cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” để giải quyết các thủ tục hành chính.