CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số các khái niệm về dạy học giải quyết vấn đề 1.Vấn đề Tình huống dạy học là một hệ thống phức tạp bao gồm chủ thể và đối tượng, trong đó chủ thể là người học nhưng khánh thể phải là một hệ thống nào đấy chứa đựng nhiều yếu tố kiến thức hoặc thực tế có các mối quan hệ tương tác với nhau theo từng điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Nếu trong tình huống này, người học vẫn chưa hiểu được một phần tử của vấn đề và có yêu cầu, nhiệm vụ là phải tìm kiếm phần tử ấy thì tình huống dạy học đó gọi là một tình huống bài toán, hoặc gọi chung là bài toán đối với người học.
(xem [1]) Một bài toán được xem là vấn đề đối với người học nếu ở tình huống ấy, với vốn kiến thức đã học và người học không có một công cụ sẵn có tính thuật giải nào có thể sử dụng mà phát hiện thấy ngay cái chưa biết của bài toán. Nếu bài toán có đòi hỏi học sinh sử dụng một quy tắc hay thuật giải đã học vào giải quyết thì không tạo nên vấn đề. Một bài toán có trở thành một vấn đề hay không chỉ có tính tương đối, phụ thuộc theo điều kiện, hoàn cảnh và thời điểm học sinh xử lý bài toán mà nó là vấn đề, thậm chí không phải là vấn đề nữa. Nếu ở thời điểm xử lý bài toán, học sinh chưa có tri thức về những tính chất của Phép nghịch đảo thì bài toán trên trở thành vấn đề đối với học sinh.
Nếu ở thời điểm xử lý bài toán, học sinh đã từng biết những tính chất của Phép nghịch đảo thì bài toán trên không trở thành vấn đề đối với học sinh mà đó là bài toán sử dụng công thức có sẵn để giải quyết. Tình huống có vấn đề Tình huống có vấn đề là tình huống dạy học mà trong đó người học phải đối diện với những yêu cầu, thách thức nào đó mà bản thân người học có mong muốn, nguyện vọng vượt qua những khó khăn đó nhưng không phải một cách dễ dàng nhờ một công cụ, thuật giải sẵn có mà cần phải có quá trình tư duy tích cực, hoạt động biến đổi đối tượng và điều chỉnh những thứ sẵn có (xem [5]). Có ba yếu tố phải thỏa mãn để một tình huống dạy học trở thành tình huống có vấn đề, đó là: - Tồn tại một vấn đề: Đây là yếu tố quan trọng nhất của tình huống. Tình huống phải nêu bật được vấn đề chính là những mâu thuẫn giữa yêu cầu, thách thức đặt ra với trình độ nhận thức của người học tại thời điểm đó.
Nghĩa là người học phải tự ý thức được những khó khăn trong quá trình đi tìm câu trả lời hoặc khi thực hiện hành động mà vốn hiểu biết sẵn có chưa đủ để giúp người học vượt qua ngay được. Trong học tập, các vấn đề thường gặp dưới dạng một khái niệm mới chưa được định nghĩa, một tính chất mới chưa được nhìn ra của đối tượng đã biết, một phương pháp hành động mới,…mà học sinh cần phát hiện và chiếm lĩnh. - Gợi nhu cầu nhận thức: Nếu tình huống đã có vấn đề nhưng vì một số nguyên nhân mà người học không cảm thấy bản thân có nhu cầu giải quyết nó, chẳng hạn, họ thấy vấn đề trong tình huống quá xa lạ, quá trừu tượng, không thể hình dung ra được, hoặc thấy đó là một vấn đề quá khó khăn, vượt tầm của mình mà chắc chắn bản thân không thể giải quyết được dù có cố gắng hết sức,… thì đó cũng chưa hình thành lên một tình huống có vấn đề. Như vậy, một yếu tố quan trọng là tình huống phải gợi lên trong người học một nhu cầu, một mong muốn thậm chí cao hơn là một quyết tâm để họ cảm thấy cần thiết phải tìm cách để giải quyết vấn đề trong tình huống đó thông qua việc tìm hiểu, bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện vốn tri thức, kĩ 6 năng đã có.
Nói một cách đơn giản là tình huống có vấn đề phải tạo được cho người học: sự gần gũi, sự tò mò, quan tâm, sự ngạc nhiên, thích thú,… để kích thích, tạo động lực để người học mong muốn, quyết tâm giải quyết vấn đề đó. - Tạo niềm tin vào khả năng của người học: Nếu một tình huống đã chứa đựng vấn đề và người học có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề nhưng vấn đề là quá khó so với khả năng hiện tại của họ, khiến họ cảm thấy vấn đề quá tầm so với khả năng của mình thì sẽ gây tâm lý hoang mang, chán nản, làm cho người học dễ bỏ cuộc, không sẵn sàng tham gia giải quyết vấn đề. Do đó, tình huống cần khiến cho người học có cảm giác không quá xa lạ, nhưng lại không hoàn toàn quen thuộc, vừa quen lại vừa lạ, đó là cảm giác rằng tuy họ chưa có ngay lời giải cho vấn đề nhưng cũng đã ở một vị trí rất gần với đáp án. Tức là người học tự cảm nhận được rằng bản thân họ đã có một số tri thức, kĩ năng liên quan đến vấn đề đặt ra mà chỉ cần tích cực suy nghĩ, tìm cách phối hợp chúng lại thì tin rằng sẽ giải quyết được vấn đề đó.
Như vậy, người học cần hình thành niềm tin ở bản thân về khả năng huy động, phối hợp các kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, từ đó càng củng cố quyết tâm giải quyết vấn đề. Một tình huống dạy học muốn thành một tình huống có vấn đề thì cần phải đáp ứng đủ những điều kiện trên. Nếu thiếu dù chỉ một trong ba yếu tố trên thì tình huống cũng sẽ không tạo thành tình huống có vấn đề và không tạo được hiệu quả mong muốn trong quá trình dạy học. Giải quyết vấn đề Khi gặp vấn đề nếu chúng ta có phương pháp thì việc xử lý sẽ nhanh chóng và triệt để.
Nhìn chung, việc giải quyết vấn đề có thể chia thành 4 bước (xem [4]). • Bước 1: Các vấn đề cần được xác định. Ở bước này, chúng ta cần lưu ý 7 o Phân biệt giữa sự thật và quan điểm cá nhân. o Trình bày vấn đề một cách chính xác, rõ ràng.
o Xác định những tiêu chuẩn nào đang bị vi phạm. o Xác định đủ các vấn đề cốt lõi. o Không trình bày vấn đề như giải pháp. • Bước 2: Đưa ra các giải pháp: chúng ta đưa ra càng nhiều giải pháp càng tốt, do đó cần lưu ý: o Liệt kê các giải pháp ngắn hạn và dài hạn.
o Tránh đánh giá các giải pháp. o Liệt kê các giải pháp phù hợp với mục tiêu. o Chắc chắn tất cả mọi cá nhân đều được tham gia đóng góp giải pháp. Đánh giá và lựa chọn các giải pháp: Sau khi có hàng loạt giải pháp, cần có sự lựa chọn giải pháp cụ thể do đó ở bước này cần: o Sử dụng các tiêu chuẩn cao để đánh giá.
o Đánh giá dựa trên một hệ thống, mục tiêu cụ thể. o Xem xét các ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp của giải pháp. o Phát biểu lựa chọn 1 giải pháp cụ thể. Triển khai và theo dõi giải pháp: Một trong những yếu tố quan trọng sau khi có giải pháp là việc triển khai và kiểm soát, ở bước này cần: o Triển khai đúng thời điểm và đúng trình tự.
o Tạo các cơ hội để nhận các góp ý. o Giao tiếp với các bên có thể bị ảnh hưởng bởi giải pháp đang triển khai. o Thiết lập hệ thống kiểm tra liên tục. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề 1.
Khái niệm phương pháp dạy học giải quyết vấn đề Dạy học giải quyết vấn đề là một phương pháp tổ chức quá trình dạy học với đặc trưng là trong quá trình dạy học đó giáo viên sử dụng các tình huống có vấn đề do giáo viên thiết kế hoặc học sinh tự đưa ra để tổ chức, điều khiển học sinh tìm hiểu, phân tích, phát hiện vấn đề, từ đó định hướng, hướng dẫn học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động thực hiện các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, kết hợp các tri thức đã có để sáng tạo ra thuật giải nhằm giải quyết vấn đề. Thông qua quá trình đó, học sinh tự kiến tạo tri thức mới, hình thành và rèn luyện kĩ năng mới nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục (xem [8]). Sơ đồ sử dung phương pháp dạy học giải quyết vấn đề xây dụng kiến thức cho học sinh. Đặc điểm của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề a.
Vấn đề là trung tâm của hoạt động dạy và học: Để khuyến khích tư duy của học sinh và tăng sự hứng thú, hứng thú, các chủ đề, vấn đề cần giải quyết phải phù hợp với học sinh và dựa trên những tình huống tương đối phức tạp, gần gũi với đời sống thực tế. Học tập mang tính chủ động, 9 tự định hướng, tích hợp, tích lũy và kết nối mạng. Vấn đề ở đây có thể là một hiện tượng, một sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, đang xảy ra hiện tại hoặc có thể thực sự xảy ra và có điều gì đó cần được giải quyết. Để giải quyết vấn đề, học sinh phải tự tìm tòi, khám phá các thông tin hữu ích: Thông tin để giải quyết vấn đề không có sẵn và học sinh phải tự nghiên cứu.
Từ vấn đề đặt ra, người học phải tích cực, chủ động tìm kiếm thông tin và sử dụng các nguồn lực phù hợp để giải quyết vấn đề chưa giải quyết. Học sinh phải có đủ lý thuyết để tiếp thu những kiến thức, thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề. Hoạt động cốt lõi trong dạy học giải quyết vấn đề là hoạt động nhóm: Dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp làm việc theo nhóm nhỏ, học sinh trao đổi, khám phá, chia sẻ kiến thức, thông tin và cùng nhau hình thành các giả thuyết giúp giải quyết vấn đề, từ đó tìm ra giải pháp. Mỗi thành viên trong nhóm phải chịu trách nhiệm về hoạt động hiệu quả của nhóm và làm việc để thúc đẩy việc học tập của từng thành viên trong nhóm.
Giáo viên đóng vai trò là người hỗ trợ: Bằng cách đặt học sinh và nhóm vào trung tâm, việc dạy giải quyết vấn đề sẽ thay đổi vai trò của giáo viên. Một mặt, giáo viên mô tả, rèn luyện và đưa ra những hướng dẫn cần thiết; mặt khác, khuyến khích học sinh đặt mục tiêu và đưa ra quyết định một cách độc lập.