CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG CƠ SỞ TP. Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm về đào tạo: Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Khái niệm đào tạo thường đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định.
Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo. Nói chung, đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ. Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại.
Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có gốc từ tiếng La tinh "Educare" có nghĩa là "làm bộc lộ ra". Có thể hiểu "giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục". TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Giáo dục bao gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết. Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác.
Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần, cách ứng xử trong xã hội. Nói chung, giáo dục là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai; Có thể cho người đó chuyển tới công việc mới trong một thời gian thích hợp. Phát triển là quá trình làm tăng thêm năng lực của con người hoặc môi trường để đáp ứng nhu cầu của con người hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
Sản phẩm của sự phát triển là mọi người được mạnh khoẻ, được chăm sóc sức khoẻ tốt, có nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, được tham gia vào hoạt động sản xuất theo chuyên môn đào tạo và được hưởng thụ các thành quả của quá trình phát triển. Như vậy phát triển không chỉ bao hàm việc khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán sản phẩm mà còn bao gồm các hoạt động không kém phần quan trọng như chăm sóc sức khoẻ, an ninh xã hội, đặc biệt là an ninh con người, bảo tồn thiên nhiên,. phát triển là một tổ hợp các hoạt động, một số mục tiêu xã hội, một số mục tiêu kinh tế, dựa trên tài nguyên thiên nhiên, vật chất, trí tuệ nhằm phát huy hết khả năng của con người, được hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Phát triển là quá trình học tập nhằm mở ra cho các cá nhân những công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức.
Ba bộ phận đào tạo, giáo dục và phát triển hợp thành cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển tiềm năng của con người. Vì vậy, đào tạo và phát TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 triển nguồn nhân lực bao gồm không chỉ đào tạo, giáo dục và phát triển đã được thực hiện bên trong một tổ chức. Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với việc nâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngành hay của một doanh nghiệp. Nói một cách khác, phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế của một doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển.
So sánh khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo Phát triển Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai Thời gian Ngắn hạn Dài hạn Phạm vi Cá nhân Cá nhân và tổ chức Mục đích Bổ sung kỹ năng thiếu Hướng đến tương lai 1. Tầm quan trọng, mục tiêu của việc phát triển nhân lực Bưu chính Viễn thông: 1. Những cơ hội đối với ngành BCVT khi gia nhập WTO: Đối với khách hàng: hội nhập WTO cho phép khách hàng trong nước được sử dụng nhiều loại hình dịch vụ BCVT đa dạng và tiên tiến hơn với giá cước giảm đáng kể mà vẫn đảm bảo được chất lượng dịch vụ. Từ năm 2006 đến nay cước viễn thông đã giảm 2 lần.
Đầu tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án điều chỉnh cước dịch vụ điện thoại cố định nội hạt cho giai đoạn 2009- 2011 (QĐ số: 155/2008/QĐ-TTg). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Đối với các doanh nghiệp BCVT:Gia nhập WTO là cơ hội để các doanh nghiệp BCVT nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Gia nhập WTO là cơ hội để các doanh nghiệp BCVT-CNTT nâng cao chuẩn mực hoạt động hướng theo thông lệ quốc tế bởi sự hiện diện của hãng lớn có tên tuổi và ảnh hưởng trên thế giới tại Việt Nam sẽ khiến cho môi trường cạnh tranh phức tạp hơn. Gia nhập WTO cũng tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực BCVT; tạo cơ hội đào tạo, bồi dưỡng kiến thức BCVT hiện đại; hỗ trợ xây dựng năng lực quản trị BCVT tiên tiến.
Các cơ quan quản lý lĩnh vực BCVT: hội nhập quốc tế tạo cơ hội và cũng đòi hỏi các nhà quản lý phải chủ động tìm hiểu, nắm bắt và đề xuất những nguyên tắc quản lý thực tiễn thị trường BCVT. Quá trình hội nhập sẽ buộc các cán bộ quản lý phải tự trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng quản lý tiên tiến, hiện đại phù hợp với xu thế hội nhập của ngành. Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực Bưu chính Viễn thông: Các cơ hội trên đây chỉ có thể biến thành hiện thực một cách hiệu quả khi ngành BCVT có được đội ngũ cán bộ đủ trình độ, năng lực và phẩm chất. Nguồn nhân lực là sức mạnh của bất kỳ một doanh nghiệp, ngành, đất nước, do vậy, tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực ngành BCVT là hết sức cần thiết.
Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), bên cạnh những thuận lợi và thời cơ vẫn còn nhiều khó khăn thách thức mà Việt Nam phải đối mặt. Phó Thủ tướng Phạm Giam Khiêm đã chỉ ra những bất cập của nền kinh tế Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO, trong đó có “.sự thiếu hụt về nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động trình độ cao, được đào tạo và có tay nghề, đang cản trở sự tăng trưởng có chất lượng và phát triển bền vững”. Nguồn nhân lực của Ngành BCVT cũng không nằm ngoài quy luật ấy, có thể thấy một số những yếu điểm sau: Thứ nhất, Kế hoạch chiến lược phát triển nguồn nhân lực chưa được quan tâm đầy đủ. BCVT là ngành công nghệ cao, tuy trình độ của đội ngũ cán bộ trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 các doanh nghiệp BCVT luôn được đào tạo cập nhật, nhưng trình độ chưa đồng đều giữa các vùng miền.
Điều này làm cho khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp BCVT không được cao. Thứ hai, công tác quản trị nguồn nhân lực còn gặp nhiều vấn đề bất cập, nhiều cán bộ đã chuyển khỏi ngành đến những nơi làm việc được cho là hấp dẫn hơn như các công ty nước ngoài, hay các đơn vị khác, trong khi chưa giải quyết được bài toán giữa “thừa người không đáp ứng được yêu cầu” và “thiếu người tài, có năng lực” Thứ ba, về chất lượng nguồn nhân lực, mặc dù đội ngũ cán bộ của các doanh nghiệp BCVT khá đông nhưng sự thông thạo ngoại ngữ, trình độ am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ, luật pháp trong nước và quốc tế, các nguyên tắc của WTO…còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Luật pháp và chính sách quản lý lao động hiện nay còn nhiều bất cập đặc biệt là thiếu hệ thống khuyến khích hợp lý để thu hút và phát triển đội ngũ cán bộ có chất lượng cao. Có thể thấy, việc gia nhập tổ chức WTO đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực và có những giải pháp đồng bộ từ cơ chế chính sách quản lý nhà nước (lương, thưởng, chế độ nghỉ hưu, thôi việc…) tới chiến lược phát triển của từng doanh nghiệp BCVT mà đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực để phát triển bền vững trên sân nhà.
Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của ngành Bưu chính Viễn thông – Công nghệ thông tin: Thực hiện Chỉ thị của 07/2007/CT-BCVT ngày 07/07/2007 của Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông), với vai trò quan trọng của ngành là dịch vụ, kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội và là tiền đề cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Viễn thông – Công nghệ thông tin Việt Nam cần tiếp tục phát triển theo hướng cập nhật công nghệ hiện đại, “đi tắt đón đầu”, bảo đảm kết nối thông tin thông suốt giữa các nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng, cao về trình độ và chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.