mở đầu 7 cho các trường kỹ thuật tại Nhật Bản để dạy cho sinh viên của họ về các vấn đề đạo đức trong kỹ thuật cho đến nay. Trước năm 1999, chỉ có một số trường kĩ thuật cung cấp giáo dục đạo đức kĩ thuật, nhưng các yêu cầu kiểm định mới đối với giáo dục được đưa ra vào năm 2000, đã khiến các trường kĩ thuật đưa ra đạo đức kĩ thuật vào năm đó và ảnh hưởng của nó đối với sinh viên kĩ thuật đang tăng lên nhanh chóng. Các khái niệm cơ ản 1. Đạo đức kỹ thuật: Phạm trù đạo đức là một khái niệm học thuật khó hiểu, gây nhiều nhầm lẫn, bởi nhiều thuật ngữ đi cùng với đạo đức không phải lúc nào cũng rõ ràng, chẳng hạn như đạo đức, đạo đức cá nhân, đạo đức nghề nghiệp.
Theo Barakat (2011), đạo đức (ethics hoặc morality) là tập hợp các lý tưởng luân lí (moral) được chia sẻ bởi hầu hết các thành viên của một nền văn hóa hoặc xã hội [tr. Mở rộng hơn, Davis (1998) cho rằng ý nghĩa của từ "ethics" được sử dụng ở ba giác độ. Ở nghĩa thứ nhất, "ethics" đồng nghĩa với đạo đức thông thường (morality), những ở nghĩa thứ hai, "ethics" là tên của một lĩnh vực triết học, và cuối cùng, "ethics" đề cập đến những tiêu chuẩn ứng xử đặc biệt áp dụng cho các thành viên của một nhóm chỉ vì tư cách thành viên đó. Khi còn trẻ, chúng ta được học nhiều hơn về đạo đức thông thường, chẳng hạn như không trộm cắp, không giết người, không lừa đảo, giữ lời hứa, không nói dối.
Mặc dù là nguyên tắc những vẫn có ngoại lệ, chẳng hạn giết người có liên quan đến tự vệ chính đáng? Theo nghĩa thứ hai, "đạo đức kỹ thuật" sẽ là một lĩnh vực triết học liên quan đến đạo đức vì nó áp dụng cho các kỹ sư. Vì vậy, khi một lĩnh vực triết học cung cấp một khóa học về đạo đức kỹ thuật (hoặc các vấn đề đạo đức trong kỹ thuật), khóa học đó sẽ cố gắng hiểu các tiêu chuẩn đặc biệt của kỹ thuật bằng cách sử dụng các phương pháp biện minh hợp lý được phát triển cho đạo đức nói chung. Mặc dù khóa học như vậy thường chứa nhiều lịch sử và xã hội học về kỹ thuật khi một khóa học về đạo đức kỹ thuật được giảng dạy trong một chương trình kỹ thuật - bao gồm nghiên cứu chi tiết các phần của bộ quy tắc đạo đức, nên có sự khác biệt trong nhấn mạnh. Ví dụ, khóa học triết học nói chung sẽ cố gắng kết nối các vấn đề đạo đức cụ thể của kỹ thuật với sự phân biệt, lập luận và tranh luận trung tâm với triết học, chẳng hạn như lí thuyết vô thần.
Sinh viên kỹ thuật có thể được hưởng lợi từ một khóa 8 học như vậy cả về cách họ được hưởng lợi từ các khóa học triết học khác và theo cách họ được hưởng lợi từ một khóa học tự do về đạo đức kỹ thuật được dạy trong một chương trình kỹ thuật. Nhưng ít, nếu có, các kỹ sư được trang bị để dạy đạo đức theo nghĩa này. Ở nghĩa thứ ba, "đạo đức kĩ thuật" đề cập đến những tiêu chuẩn ứng xử đặc biệt, cho phép về mặt đạo đức mà mọi thành viên trong nhóm muốn mọi thành viên khác trong nhóm đó tuân theo. Đạo đức áp dụng cho các thành viên của một nhóm đơn giản vì họ là thành viên của nhóm đó.
Đạo đức kỹ thuật trong thực tế bao gồm các tiêu chuẩn của đạo đức thông thường, ví dụ, sự trung thực (không nói dối, lừa dối hoặc ăn cắp). Nhưng đạo đức kỹ thuật khác với đạo đức thông thường, trong chừng mực nó khác, với những đòi hỏi nhiều hơn ("một tiêu chuẩn cao hơn"). Nói rằng đạo đức kỹ thuật chỉ áp dụng cho các kỹ sư không phải là để từ chối bất kỳ sự tương đồng giữa đạo đức kỹ thuật và đạo đức (thông thường) mà là một sự phủ nhận rằng những người bình thường bị ràng buộc bởi bất kỳ nghĩa vụ bổ sung nào mà các kỹ sư thực hiện. Đạo đức (theo nghĩa thứ ba) định nghĩa một thực hành hợp tác.
Mặc dù không ràng buộc về mặt đạo đức đối với tất cả mọi người, nhưng nó ràng buộc về mặt đạo đức đối với những người tự ràng buộc mình (cho dù bằng cách thực sự hứa hẹn hay chỉ đơn thuần bằng cách tự nguyện tham gia vào một thực hành hợp tác cho phép về mặt đạo đức). Đạo đức (theo nghĩa thứ ba này) là "đạo đức đặc biệt". Ý thức đạo đức thứ ba này dường như chi phối các cuộc thảo luận về đạo đức giữa các thành viên của ngành nghề. Điều đó không đáng ngạc nhiên.
Nghề nghiệp đối với các cá nhân là khi họ có thể kiếm sống bằng cách phục vụ công khai một lý tưởng đạo đức nhất định theo những cách vượt ra ngoài những gì luật pháp, thị trường và đạo đức (thông thường) yêu cầu. Điều này không khác gì những lí tưởng đạo đức của các nhà khoa học với trách nhiệm đạo đức cho những tuyên bố học thuật. Một nghề không thể không đặt ra các tiêu chuẩn đặc biệt (cho phép về mặt đạo đức), nghĩa là, không có sự phát triển đạo đức của riêng mình (theo nghĩa thứ ba). Nói chung, các tiêu chuẩn đặc biệt cấu thành đạo đức kĩ thuật được xây dựng theo quy tắc đạo đức, theo cách hiểu chính thức về quy tắc đó và 9 trong các thực tiễn ít chính thức hơn khi các thành viên có kinh nghiệm truyền lại cho các thành viên mới cách họ làm việc đặc biệt.
Vì vậy, ngoại trừ những sinh viên theo cha mẹ vào nghề, không ai có thể học nhiều về đạo đức kĩ thuật ngoại trừ tại một trường chuyên nghiệp hoặc trong khi thực hành nghề. Đạo đức kỹ thuật là một phần của suy nghĩ như một kỹ sư. Dạy đạo đức kỹ thuật là một phần của việc dạy các kỹ sư tương lai cách thực hành nghề nghiệp. Theo Barakat (2011), một điều cũng dễ gây nhầm lẫn khác là ranh giới giữa đạo đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp không phải lúc nào cũng rõ ràng.
"Đạo đức cá nhân (personal ethics) là tập hợp các cam kết đạo đức của chính mình, có được trong quá trình giáo dục và sửa đổi trong trải nghiệm hàng ngày". Cách một người đối phó và đối xử với người khác trong cuộc sống hàng ngày chủ yếu dựa trên đạo đức cá nhân. Tuy nhiên, "đạo đức nghề nghiệp (professional ethics) là tập hợp các tiêu chuẩn ứng xử được các chuyên gia áp dụng". Điều này khác với luật của nghề nghiệp bao gồm bộ luật điều chỉnh hoạt động của nghề và được thi hành bởi các cơ quan thực thi và cấp phép pháp luật công.
Tuy nhiên, hầu hết các luật của nghề nghiệp là dựa trên đạo đức. Tuy nhiên, đạo đức không phải lúc nào cũng có nghĩa là hợp pháp và ngược lại. Theo Harris (1996), "đạo đức kĩ thuật là đạo đức nghề nghiệp, trái ngược với đạo đức cá nhân" [tr. Đạo đức kĩ thuật đặt ra các tiêu chuẩn cho thực hành chuyên nghiệp, và chỉ được học trong một trường chuyên nghiệp hoặc trong thực hành chuyên nghiệp.
Đạo đức nghề nghiệp đề cập đến những quy tắc đạo đức đặc biệt có thể chấp nhận của cư xử, mà mọi thành viên của một nghề muốn mọi thành viên khác làm theo, ngay cả khi làm như nhau. Đạo đức y áp dụng cho bác sĩ, đạo đức kinh doanh áp dụng cho doanh nhân và cũng tương tự, đạo đức kĩ thuật áp dụng cho các kĩ sư. Những phân tích trên có thể dẫn đến một cách hiểu về khái niệm đạo đức kĩ thuật như sau: Đạo đức kĩ thuật là tập hợp các quy tắc đạo đức để hướng dẫn mà các kỹ sư như một phần thực hành nghề nghiệp, như một nghĩa vụ đạo đức đối với nghề nghiệp của họ và với thế giới. Về mặt chức năng, đạo đức kĩ thuật là một dạng đạo đức nghề nghiệp liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ đạo đức của kĩ sư.
Các quy tắc đạo đức (codes of ethics) có thể được định nghĩa đơn giản như "các tiêu chuẩn chung của đạo 10 đức nghề nghiệp" (Barakat, 2011). Các quy tắc đạo đức được mô tả trong nhiều tổ chức kĩ thuật, chẳng hạn như Hiệp hội kỹ sư chuyên nghiệp quốc gia (NSPE), Viện Kỹ sư điện và điện tử (IEEE), Học viện kĩ thuật hoàng gia Anh (Royal Academy of Engineering - RAE). Trong đó, bộ quy tắc đạo đức của NSPE được nhắc đến nhiều hơn trong các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn bởi việc mô tả chi tiết vào các hành vi đạo đức của kĩ sư. Mặc dù có cách tiếp cận khác nhau giữa các tổ chức kĩ thuật trong cách mô tả quy tắc đạo đức, nhưng đều có chung các thuộc tính chung phổ biến, bao gồm (Barakat, 2011): - Nghĩa vụ chính là bảo vệ sự an toàn, sức khỏe và phúc lợi công chúng, cũng như đảm bảo đóng góp cho sự phát triển bền vững.
- Nhận thức liên tục về bản chất thử nghiệm của bất kỳ dự án nào, dự báo tưởng tượng về các nguy cơ có thể có của nó và nỗ lực cải thiện chúng. - Một sự tham gia cá nhân trong tất cả các bước của dự án và chấp nhận trách nhiệm giải trình đối với kết quả của dự án. - Một nghĩa vụ để bảo vệ và nâng cao danh tiếng và tính toàn vẹn của nghề nghiệp và các chuyên gia. Các quy tắc đạo đức đã trở thành một phần thiết yếu của đào tạo được cung cấp cho sinh viên kỹ thuật trong hầu hết các chương trình kỹ thuật được ABET công nhận.
ABET yêu cầu giáo dục đạo đức như là một phần của tiêu chí kiểm định chương trình kỹ thuật. Dạy học đạo đức kỹ thuật: Để hiểu "dạy học đạo đức kĩ thuật là gì", Davis (2016) đưa ra hai giả định: Thứ nhất là kỹ thuật có các tiêu chuẩn ứng xử đạo đức "đặc biệt" thể hiện cả trong thực tế và trong các quy tắc đạo đức chính thức như được áp dụng bởi Hiệp hội kỹ sư chuyên nghiệp quốc gia (NSPE), Hoa Kỳ hoặc các tổ chức khác. Giả định thứ hai là hầu hết các kỹ sư có thể nhận ra các tiêu chuẩn đó là những tiêu chuẩn mà họ muốn các kỹ sư khác tuân theo đến mức họ sẽ sẵn sàng làm điều tương tự nếu điều đó là cần thiết để khiến những người khác tham gia.