Luận văn thạc sĩ đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ đến kinh tế xã hội lưu vực sông thu bồn trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ đến kinh tế xã hội lưu vực sông thu bồn trong bối cảnh biến, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Thủy văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2013

56
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

1.2. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐÁNH GIÁ TỔN THƯƠNG LŨ

1.3. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.4. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI

1.4.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ GÂY RA ĐỐI VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG THU BỒN

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tổn thương do lũ ở sông Thu Bồn

Lũ lụt là một trong những hiện tượng thiên tai nghiêm trọng nhất tại miền Trung Việt Nam, đặc biệt là ở lưu vực sông Thu Bồn. Tổn thương do lũ không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người dân mà còn tác động lớn đến kinh tế - xã hội của khu vực. Việc đánh giá tổn thương do lũ là cần thiết để có những biện pháp phòng chống hiệu quả.

1.1. Khái niệm về tổn thương do lũ

Tổn thương do lũ được hiểu là mức độ thiệt hại mà con người, tài sản và môi trường phải gánh chịu khi xảy ra lũ lụt. Điều này bao gồm cả thiệt hại về người và của cải, cũng như tác động đến môi trường sống.

1.2. Tình hình lũ lụt tại sông Thu Bồn

Sông Thu Bồn thường xuyên phải đối mặt với các trận lũ lớn, gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người dân và cơ sở hạ tầng. Các nghiên cứu cho thấy rằng tần suất và cường độ lũ lụt đang gia tăng do biến đổi khí hậu.

II. Vấn đề và thách thức trong đánh giá tổn thương do lũ

Đánh giá tổn thương do lũ gặp nhiều thách thức, bao gồm việc thu thập dữ liệu chính xác và kịp thời, cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chống chịu của cộng đồng. Những vấn đề này cần được giải quyết để có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập dữ liệu

Việc thu thập dữ liệu về tổn thương do lũ thường gặp khó khăn do thiếu thông tin từ các cộng đồng bị ảnh hưởng. Điều này làm giảm độ chính xác của các đánh giá và dự báo.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất và cường độ lũ lụt, gây ra những thách thức lớn trong việc đánh giá tổn thương. Các mô hình khí hậu cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh đúng tình hình thực tế.

III. Phương pháp đánh giá tổn thương do lũ hiệu quả

Để đánh giá tổn thương do lũ một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc sử dụng bản đồ ngập lụt và các chỉ số đánh giá tổn thương là rất quan trọng.

3.1. Sử dụng bản đồ ngập lụt

Bản đồ ngập lụt giúp xác định các khu vực có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi lũ. Điều này cho phép các nhà quản lý đưa ra các biện pháp phòng ngừa kịp thời.

3.2. Các chỉ số đánh giá tổn thương

Các chỉ số như mật độ dân số, giá trị tài sản và khả năng chống chịu của cộng đồng cần được xem xét để đánh giá chính xác mức độ tổn thương do lũ.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ kết quả nghiên cứu tổn thương do lũ

Kết quả nghiên cứu về tổn thương do lũ có thể được ứng dụng trong việc xây dựng các chính sách phòng chống lũ hiệu quả. Các nhà quản lý có thể sử dụng thông tin này để phát triển các kế hoạch ứng phó và giảm thiểu thiệt hại.

4.1. Xây dựng chính sách phòng chống lũ

Các chính sách cần được xây dựng dựa trên các kết quả nghiên cứu để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc giảm thiểu tổn thương do lũ.

4.2. Tăng cường nhận thức cộng đồng

Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ lũ lụt và các biện pháp phòng chống là rất quan trọng để giảm thiểu thiệt hại.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong nghiên cứu tổn thương do lũ

Nghiên cứu tổn thương do lũ cần được tiếp tục để cập nhật các thông tin mới và cải thiện các phương pháp đánh giá. Hướng đi tương lai nên tập trung vào việc phát triển các công nghệ mới và tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan.

5.1. Cải tiến phương pháp nghiên cứu

Cần áp dụng các công nghệ mới như GIS và mô hình hóa để nâng cao độ chính xác trong đánh giá tổn thương do lũ.

5.2. Hợp tác giữa các bên liên quan

Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng để xây dựng các giải pháp phòng chống lũ hiệu quả hơn.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chƣơng 1 : Tổng quan Chƣơng 2: Phƣơng pháp đánh giá tính dễ tổn thƣơng do lũ Chƣơng 3: Đánh giá tính dễ tổn thƣơng do lũ gây ra đối với kinh tế- xã hội lƣu vực sông Thu Bồn. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG 1. Khái niệm chung về tính dễ tổn thƣơng.

Mục đích của việc đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng nhằm cung cấp cho các nhà ra quyết định hay các bên liên quan về những lựa chọn nhằm giảm thiểu ảnh hƣởng của những mối nguy hiểm do lũ lụt. Nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng là để đƣa ra những hành động chính xác có thể làm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Sự cần thiết của việc phân tích, đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng đã đƣợc trình bày trong nhiều tài liệu khoa học với các khái niệm bao gồm: tính dễ bị tổn thương tự nhiên, tính dễ tổn thương xã hội và những tổn thương kinh tế. Khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua.

Đã có nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng. Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thƣơng giữa các ngành, lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn nhiều tranh cãi trong các cộng đồng, các hƣớng nghiên cứu khoa học khác nhau. Theo tổng quan của Đặng Đình Khá [5], trong ngành khoa học kinh tế - xã hội: Với cách tiếp cận của Ramade (1989) thì tính dễ bị tổn thƣơng bao gồm cả con ngƣời và kinh tế - xã hội, liên quan đến khuynh hƣớng hàng hóa, con ngƣời, cơ sở hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại, sức đề kháng của cộng đồng, khi đƣợc giới thiệu trong một số nghiên cứu địa lý vào những năm 1980. Nhƣng nghiên cứu đó lại không đề cập đến mặt tự nhiên, mức độ, tần suất xuất hiện của các hiện tƣợng thiên tai.

Trong nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này đã giải thích tính dễ bị tổn thƣơng của một hệ thống địa lý, vùng lãnh thổ là kết quả của các hoạt động, khả năng chống chịu khác nhau xã hội, bối cảnh kinh tế và công nghệ không đồng nhất. Cũng theo [5] Watts và Bohle (1993) đã xem xét đến bối cảnh xã hội của các mối nguy hiểm và liên hệ tính dễ bị tổn thƣơng xã hội tới khả năng phục hồi, chống 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chịu của cộng đồng. Họ đã cố gắng tìm mọi cách dễ dàng hơn để hiểu và đơn giản hóa khái niệm đó thông qua các nghiên cứu sâu hơn về nền tảng xã hội. Tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc mô tả bởi tổ chức chiến lƣợc giảm nhẹ thiên tai thế giới (ISDR, 2004) nhƣ là các điều kiện xác định bởi các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế và môi trƣờng hay các quá trình, làm tăng tính nhạy của cộng đồng.

Trong cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, thì tính dễ bị tổn thƣơng lại tập trung vào năng lực của con ngƣời để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất. Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội. Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổn thƣơng, họ tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thƣơng mà ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống. Trong lĩnh vực vật lý, ngành khoa học tự nhiên đã giải thích tính dễ bị tổn thƣơng do ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu.

Hội đồng Quốc tế về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thƣơng qua nhiều năm. Năm 1992, họ xác định tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ mức độ không có khả năng đối phó với những hậu quả của biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng. Năm 1996, SAR đã xác định tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ mức độ mà biến đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới. Đƣợc xem nhƣ những tác động còn lại của biến đổi khí hậu sau khi các biện pháp thích ứng đƣợc thực hiện (Downing, 2005).

Định nghĩa này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu [5]. IPCC TAR (2001) [5] đã giải thích khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng nhƣ mức độ dễ bị ảnh hƣởng của hệ thống hoặc khả năng không thể đối phó đƣợc với các tác động của biến đổi khí hậu. Tính dễ bị tổn thƣơng là một hàm đặc trƣng của cƣờng độ, tốc độ biến đổi khí hậu khi hệ thống bị lộ diện, bao gồm cả độ nhạy và khả năng thích ứng. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các định nghĩa này đã thể hiện sự phát triển, với định nghĩa của SAR và TAR đã bao gồm các thành phần xã hội để giải thích tính dễ bị tổn thƣơng.

Trong những năm 1980 và đặc biệt là những năm 1990 thì những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các hoạt động con ngƣời và tác động của thiên tai theo chiều hƣớng tổn thƣơng kinh tế xã hội đã tăng lên. Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thƣơng đã dần đƣợc cải thiện thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực tự nhiên và kinh tế xã hội của hệ thống. Tổn thƣơng do lũ lụt Theo Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn [7], khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng sử dụng dựa trên khái niệm của UNESCO-IHE “ Tính dễ bị tổn thương là mức độ gây hại có thể được xác định trong những những điều kiện nhất định thông qua tính nhạy, sự tổn thất và khả năng phục hồi”. Để tăng cƣờng tính ứng dụng của các nghiên cứu trong thực tế, đặc biệt là trong chủ động đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng do lũ thì Janet Edwards (2007)[5] đã đƣa ra một khái niệm nữa là bản đồ tính dễ bị tổn thƣơng do lũ “là bản đồ cho biết vị trí các vùng nơi mà con người, môi trường thiên nhiên, của cải gặp rủi ro do các thảm hoạ có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại về người, gây ô nhiễm môi trường”.

Ngoài ra, theo một số nghiên cứu khác định nghĩa: Khái niệm tính dễ bị tổn thƣơng do lũ lụt là việc xem xét lƣa chọn tiếp xúc, nhạy cảm và các chỉ số đối phó của ngƣời dân trong khu vực nghiên cứu. Phân tích các chỉ số này cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào các đặc tính dễ bị tổn thƣơng của ngƣời dân bị ảnh hƣởng và tác động với quản lý nguy cơ lũ lụt. Khi định lƣợng đƣợc tính dễ bị tổn thƣơng của một vùng nào đó thì nó sẽ cung cấp những thông tin cần thiết hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm chống lại các mối nguy hiểm do lũ lụt gây ra mà xã hội phải hứng chịu. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐÁNH GIÁ TỔN THƢƠNG LŨ Trong những năm qua việc quản lý lũ bằng các phƣơng án công trình nhƣ đê và hồ chứa, đƣợc thiết kế với các trận lũ có tấn suất khác nhau đã chiếm ƣu thế.

Đây là cách tiếp cận nhằm giảm thiên tai lũ, nghĩa là giảm xác suất xuất hiện, cƣờng độ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lƣu lƣợng lũ, cũng nhƣ giảm diện ngập lụt. Thời gian gần đây đã có sự phát triển quan trọng: đó là chuyển mục tiêu quản lý thiên tai sang quản lý rủi ro lũ, trong đó rủi ro lũ là những thiệt hại do lũ lụt gây ra với một tần suất nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Vì thế, việc đánh giá những thiệt hại, tổn thƣơng lũ cần đƣợc nghiên cứu một cách cẩn trọng trong quản lý rủi ro lũ.Việc đánh giá thiệt hại, tổn thƣơng lũ đang đạt đƣợc những kết quả quan trọng phục vụ cho việc đƣa ra các quyết định trong quản lý rủi ro lũ thông qua các bƣớc sau: Đánh giá tổn thương lũ: Các đối tƣợng trong vùng lũ nhƣ nhà ở, cộng đồng, công trình vv…. bị tổn thƣơng một cách biến động không chỉ theo không gian, thời gian mà còn phụ thuộc vào khả năng chống chịu của ngƣời dân tại đó.

Ví dụ, các cộng đồng phải thƣờng xuyên đối mặt với lũ lụt, họ sẽ phát triển các chiến lƣợc đối phó với các hiện tƣợng đó. Còn các cộng đồng không phải đối mặt với các trận lũ lụt thƣờng bỏ qua việc thích nghi với các nguy cơ lũ, vì thế họ sẽ bị tổn thƣơng lớn hơn khi phải đối diện với lũ. Do đó, những đánh giá về tổn thƣơng lũ đóng vai trò quan trọng trong bài toán xác định phƣơng án giảm rủi ro thích hợp, nhƣ phát triển các kế hoạch khẩn cấp và thực hiện các bài tập trong tình huống khẩn cấp. Bản đồ hóa tổn thương lũ: Bản đồ tổn thƣơng lũ là một phần quan trọng trong quản lý rủi ro lũ, cung cấp những thông tin về đối tƣợng, thể hiện một cách trực quan về những rủi ro tiềm tàng trong vùng có nguy cơ lũ.

Quyết định tối ưu cho các phương án giảm nhẹ lũ: An toàn lũ và giảm thiểu tổn thƣơng lũ là mục đích của bài toán, do vậy việc lựa chọn các phƣơng án giảm thiểu tổn thƣơng lũ phải đƣợc xác định, và những lợi ích, chi phí cho các lựa chọn khác phải đƣợc định lƣợng và so sánh. Những bƣớc này nhằm sử dụng chi phí quản lý rủi ro một cách hiệu quả, do vậy những đánh giá thiệt hại, tổn thƣơng lũ là một yếu tố quan trọng. Đánh giá tài chính ngay sau lũ đƣợc thực hiện khi lũ xảy ra, cơ quan quản lý thiên tai và Chính phủ cần đánh giá nhanh những thiệt hại, tổn thƣơng do lũ, để dự thảo ngân sách và đƣa ra các quyết định về bồi thƣờng thiệt hại cho các đối tƣợng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong vùng bị lũ lụt [5].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ