Chương 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các cơ sở khoa học và quy định pháp lý của vấn đề nghiên cứu 1. Cơ sở khoa học 1. Một số khái niệm chung a.
Dat (Soil) Năm 1879, nha bac học người Nga Dokuchaev cho rang: Dat là một thực thé tự nhiên có lịch sử riêng biệt và độc lập, được hình thành dưới sự tác động tổng hợp của các yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Sau Dokuchaev, các nhà thé nhưỡng học bổ sung một yếu tố nữa là sự tác động của con người trong sự hình thành đất. Như vậy, đất là một vật thé tự nhiên đặc biệt và xác định đất như một hàm số của các yếu tố hình thành dat: D = f (DM, SV, KH, DH, CN, t) Trong đó: D: đất DM: đá mẹ ĐH: địa hình SV: sinh vật CN: con người KH: khí hậu t: thời gian b. Dat dai (Land) Theo FAO (1983) dat dai là một diện tích bề mặt của trái đất với đặc tính bao gồm các thuộc tính tương đối ôn định, có thé dự báo theo chu kỳ của sinh quyên bên trên và bên dưới nó như: không khí, thổ nhưỡng, địa chất, thuỷ văn, sinh vật; là kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại, mà những thuộc tính này có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất đai bởi con người trong hiện tại và tương lai.
Đất nông nghiệp (Agricultural Land) Theo FAO (1983) đất nông nghiệp là loại đất được sử dụng hoặc có tiềm năng sử dụng cho các hoạt động nông nghiệp, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, và nuôi trồng thủy sản. Đất nông nghiệp có thể bao gồm các loại đất như đất trồng lúa, ngô, cây công nghiệp, cây ăn quả, đất đồng cỏ, và các loại đất sử dụng trong chăn nuôi gia súc và gia cầm. Loại hình sử dung đất (Land uses types) Theo FAO (1983) loại hình sử dụng đất là loại sử dụng đất được mô tả hoặc xác định chỉ tiết hơn loại sử dụng đất chính. Một loại hình sử dụng đất có thé là một loại cây trồng hoặc một số loại cây trồng trong một điều kiện kỹ thuật và kinh tế-xã hội nhất định.
Các thuộc tính của loại hình sử dụng đất bao gồm các thông tin về sản xuất; thị trường tiêu thụ sản phẩm; đầu tư, lao động, biện pháp kỹ thuật, yêu cầu về cơ sở hạ tầng: mức thu nhập. Thoái hóa đất (Land degradation) Hiện nay khái niệm thoái hóa đất được sử dụng rộng rãi và đều thống nhất đó là quá trình làm xấu tính chất và chất lượng đất. Theo định nghĩa của FAO (1979), thoái hóa đất là quá trình làm suy giảm khả năng sản xuất ra hàng hóa (cả về mặt số lượng và chất lượng) hoặc giảm mức độ đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất khác của con người. Theo FAO/ UNDP/ UNEP (1994), thoái hoá đất có thể được hiểu như là mức độ thay đổi theo chiều hướng xấu đi của chất lượng đất.
Kết quả là làm giảm khả năng sản xuất của đất. Nguyên nhân chính là do sự can thiệp của con người. Theo Dao Châu Thu (2008), đất bị thoái hóa nghĩa là bị suy giảm hoặc mất đi độ phì đất (các chất dinh dưỡng; cấu trúc đất; màu sắc ban đầu của đất; tầng dày đất, thay đôi pH đất.), khả năng sản xuất (các loại cây trồng, các loại vật nuôi, các loại cây lâm nghiệp), cảnh quan sinh thái (rừng tự nhiên hoặc rừng trồng, hệ thống cây trồng), môi trường sống của con người (cây xanh, nguồn nước, không khí trong lành, nhiệt độ ôn hoà, 6n định.