Chương 1 giới thiệu bối cảnh chính sách, vấn đề chính sách, mục tiêu, câu hỏi, phạm vi nghiên cứu, thu thập dữ liệu và bố cục luận văn. Chương 2 trình bày phương pháp luận và khung phân tích kinh tế và tài chính. Chương 3 mô tả số 17 liệu. Chương 4 tính toán và phân tích kết quả kinh tế.
Chương 5 tính toán và phân tích kết quả tài chính. Chương 6 đưa ra kết luận và kiến nghị chính sách. 18 • PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH Chương này trình bày quan điểm phân tích, một số chỉ tiêu để đánh giá dự án và khung phân tích chi phí - lợi ích để thẩm định tính khả thi về kinh tế, tài chính và xã hội của dự án GPP Cà Mau. • Quan điểm phân tích dự án • Quan điểm kinh tế Dự án sẽ được đánh giá chi phí và lợi ích trên tổng thể nền kinh tế.
Giá kinh tế sẽ được sử dụng để định giá các nhập lượng và xuất lượng của dự án; Ngoài ra, phân tích kinh tế đòi hỏi phải điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thuế. Ngân lưu kinh tế = Tổng lợi ích kinh tế – Chi phí kinh tế • Quan điểm tài chính Quan điểm tài chính bao gồm quan điểm tổng đầu tư và chủ đầu tư. Quan điểm tổng đầu tư = Lợi ích tài chính – Chi phí tài chính Quan điểm chủ đầu tư = Quan điểm tổng đầu tư + Vốn vay – Trả lãi và nợ vay • Một số chỉ tiêu đánh giá dự án • Giá trị hiện tại ròng Do trong quá trình đầu tư và vận hành dự án, các dòng chi phí và lợi ích phát sinh vào những thời điểm không trùng nhau, nên cần phải điều chỉnh về cùng mốc thời gian để so 19 sánh và đưa ra quyết định. Kỹ thuật dùng suất chiết khấu để đưa dòng tiền về cùng một thời điểm trong hiện tại được gọi là giá trị hiện tại ròng (NPV) của dự án.
NPV là tiêu chuẩn đáng tin cậy và thường được sử dụng nhất trong việc ra quyết định lựa chọn hay bác bỏ dự án. Dự án sẽ được lựa chọn nếu NPV không âm khi được chiết khấu với suất sinh lợi thích hợp. Đối với phân tích kinh tế, suất chiết khấu này là chi phí cơ hội kinh tế của vốn (EOCK) - phản ánh chi phí cơ hội của nền kinh tế đã bỏ qua khi đầu tư nguồn lực vào dự án. Đối với phân tích tài chính, suất chiết khấu là chi phí vốn bình quân trọng số giữa chi phí vốn chủ sở hữu và chi phí vốn vay (WACC).
Công thức: Trong đó: NPV là giá trị hiện tại ròng kinh tế (tài chính) của dự án tại năm 0 Bt, Ct là lợi ích và chi phí kinh tế (tài chính) ở năm t r là suất chiết khấu kinh tế (tài chính) n là thời gian từ khi xây dựng cho đến khi dự án kết thúc hoạt động • Suất sinh lợi nội tại Suất sinh lợi nội tại (IRR) là suất chiết khấu làm cho NPV của dự án bằng 0. Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng thường được sử dụng kết hợp với NPV để lựa chọn hoặc bác bỏ dự án. Dự án sẽ được lựa chọn nếu IRR lớn hơn suất sinh lợi yêu cầu. Đối với phân tích kinh tế, suất sinh lợi nội tại kinh tế lớn hơn suất sinh lợi yêu cầu của nền kinh tế thì dự án được chọn.
Đối với phân tích tài chính, suất sinh lợi nội tại tài chính lớn hơn suất sinh lợi yêu cầu của dự án thì dự án sẽ được xây dựng trên quan điểm tổng đầu tư. Công thức: Trong đó: Bt, Ct là lợi ích và chi phí kinh tế (tài chính) vào năm t r là suất chiết khấu kinh tế (tài chính) n là thời gian từ khi xây dựng cho đến khi dự án kết thúc hoạt động 20 Tuy nhiên, có những trường hợp dự án có nhiều hoặc không có IRR, nên NPV vẫn là chỉ tiêu quan trọng nhất và IRR là chỉ báo mang tính chất tham khảo. • Hệ số an toàn trả nợ Hệ số an toàn trả nợ (DSCR) được tính bằng cách lấy tiền mặt sẵn có để trả nợ chia cho ngân lưu nợ. Đây là chỉ tiêu thường được ngân hàng dùng để đánh giá khả năng trả nợ của dự án.
Tiêu chuẩn để đánh giá là DSCR phải lớn hơn hoặc bằng 1. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho vốn vay, ngân hàng thường yêu cầu DSCR cần lớn hơn 1,2 (Nguyễn Xuân Thành, 2007). Ngoài ra, chỉ tiêu này sẽ không cần thiết khi NPV tài chính của dự án âm, vì khi đó ngân hàng sẽ không cho vay nên không cần xét đến DSCR. • Phân tích kinh tế Một dự án công muốn được thực hiện phải có ý nghĩa đối với nền kinh tế, do đó, phân tích kinh tế là việc cần làm đầu tiên trong thẩm định dự án.
• So sánh kịch bản có và không có dự án Khi không có GPP Cà Mau, PV Gas mua khí từ các mỏ khí, vận chuyển vào bờ và bán cho các nhà máy điện và đạm thông qua các trung tâm phân phối khí. Khi có GPP Cà Mau, nhà máy sẽ xử lý và tách thành phần khí để tạo ra các sản phẩm là khí khô, LPG và Condensate.1: Quy trình xử lý khí, LPG và Condensate khi có GPP Cà Mau 21 Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên thông tin do PV Gas cung cấp Như vậy, lợi ích ròng từ việc có dự án là giá trị khí khô, LPG và Condensate do dự án sản xuất trừ chi phí vận hành và chi phí đầu tư ban đầu. Do đó, GPP Cà Mau sẽ được chấp thuận đầu tư nếu lợi ích ròng do dự án tạo ra đạt giá trị dương. • Nhận dạng chi phí và lợi ích kinh tế • Chi phí kinh tế Chi phí kinh tế được tính từ việc chuyển đổi chi phí tài chính thông qua hệ số chuyển đổi (CF) và loại bỏ lạm phát; Thuế và chi phí đền bù là khoản chuyển giao nên không phải là chi phí kinh tế.
Giá trị kinh tế của đất là chi phí kinh tế, phản ánh chi phí cơ hội của đất khi được sử dụng cho dự án. • Lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế được ước lượng cho giá trị thay thế nhập khẩu LPG, Condensate và giá trị khí khô do dự án tạo ra. Ngoài ra, còn một số lợi ích kinh tế chưa lượng hóa được như cơ sở hạ tầng được nâng cấp; Nhiên liệu sạch hơn và cải thiện môi trường; Dự án ra đời sẽ kéo theo các ngành công nghiệp liên quan phát triển hơn. • Xác định mức giá kinh tế cho đầu vào của dự án Trên thực tế, kết quả thẩm định dự án sẽ đạt hiệu quả cao nếu người thẩm định điều chỉnh tất cả các chi phí đầu vào để phản ánh chi phí cơ hội của nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc này rất tốn kém và mất nhiều thời gian trong khi có những chi phí ảnh hưởng rất nhỏ đến kết quả của dự án. Do đó, luận văn chỉ điều chỉnh các chi phí đầu vào quan trọng của dự án. 22 Thứ nhất, luận văn điều chỉnh chi phí đầu tư tài chính sang chi phí đầu tư kinh tế thông qua CF. Trong đó, chi phí tư vấn, chi phí quản lý dự án, chi phí khác, chi phí dự phòng phát sinh khối lượng được giả định CF bằng 1.
Chi phí đền bù cho người dân là khoản chuyển giao nên không phải là chi phí kinh tế. Giá trị kinh tế của đất là chi phí đầu tư kinh tế, được tính theo giá đất đang giao dịch trên thị trường. Chi phí máy móc thiết bị được điều chỉnh theo hàm lượng ngoại thương do dự án nhập khẩu máy móc 100% từ nước ngoài. Chi phí xây dựng kinh tế sẽ tính theo chi phí xây dựng tài chính có điều chỉnh lương lao động phổ thông.
Theo khảo sát các dự án đạm và điện tại Cà Mau, lực lượng lao động phổ thông tham gia trong quá trình xây dựng dự án chủ yếu là lao động người Trung Quốc. Do đó, luận văn gặp khó khăn trong việc điều tra mức lương của nhóm lao động này trước khi tham gia dự án để tính chi phí lương kinh tế cho lao động phổ thông. Vì vậy, luận văn giả định hệ số lương kinh tế đối với lao động giản đơn là 0,55 và tỷ lệ chi phí lương lao động giản đơn so với tổng chi phí xây dựng là 15% (Nguyễn Xuân Thành và đ. Thứ hai, luận văn điều chỉnh giá kinh tế đối với chi phí hoạt động của dự án.
Việc xây dựng dự án GPP Cà Mau không làm giảm lượng tiêu thụ của các nhà máy điện và đạm hiện tại mà chỉ có chủ mỏ phải tăng thêm nguồn cung để bán nên chỉ có tác động tăng thêm. Do đó, giá kinh tế của khí là giá cung tại mỏ khí (chi phí sản xuất biên dài hạn) cộng với chi phí vận chuyển vào bờ qua đường ống dẫn khí. Ngoài ra, luận văn còn điều chỉnh một số chi phí khác như chi phí bảo trì có CF bằng với CF của chi phí thiết bị do việc bảo trì chủ yếu xuất phát từ các thiết bị đó; Chi phí nước và hóa chất chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong dự án và không tác động lớn đến cung cầu trên thị trường, nên luận văn giả định chi phí tài chính bằng chi phí kinh tế. Lao động tham gia trong quá trình vận hành nhà máy chủ yếu là lao động kỹ năng, nên không có sự khác biệt giữa lương tài chính và lương kinh tế.
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là khoản chuyển giao nên loại bỏ khỏi chi phí kinh tế. 23 • Xác định mức giá kinh tế cho đầu ra của dự án Như đã trình bày, dự án tạo ra ba sản phẩm là LPG, Condensate và khí khô. LPG và Condensate là hàng ngoại thương và hiện đang được nhập khẩu từ nước ngoài. Do đó, luận văn xác định mức giá kinh tế của LPG và Condensate thông qua giá nhập khẩu vào Việt Nam có điều chỉnh hàm lượng ngoại thương và CF tương ứng cho giá sản phẩm tại cảng nhập khẩu (giá CIF) và chi phí vận chuyển, còn thuế nhập khẩu là khoản chuyển giao nên không được tính trong giá kinh tế.
Trong đó, hàm lượng ngoại thương của giá CIF và chi phí vận chuyển lần lượt là 100% và 20%; CF của giá CIF và chi phí vận chuyển lần lượt là 1 và 0,9 (Nguyễn Xuân Thành, 2009). Từ giá tài chính, luận văn tính ra mức giá kinh tế chưa điều chỉnh cho giá CIF và chi phí vận chuyển thông qua CF.