chương I : Cơ Sở lý luận về môi trường ở các chợ trên địa bàn Thành Phố Đà nẵng. Tổng quan về điều kiện tự nhiên,tài nguyên thiên nhiên,kinh tế-xã hội Thành Phố Đà Nẵng. Những vấn đề cơ bản về kinh tế học môi trường. Khái niệm về môi trường: Môi trường là tổng hợp tất cả điều kiện xung quanh một điểm trong không gian và thời gian.môi trường là tổng hợp tất cả các ngoại lực,ảnh hưởng,điều kiện tác động lên đời sống,tính chất,hành vi và sự sinh trưởng,phát triển và trưởng thành của cơ thể sống.
Chất lượng môi trường: Nhìn chung ,chất lượng môi trường thành phố Đà Nẵng trong 10 năm qua có nhiều chuyển biến tích cực song cũng tồn tại những vấn đề môi trường chưa được giải quyết triệt để,cục bộ còn ô nhiễm,nẩy sinh những điểm ô nhiễm mới và dự báo sẽ có nguy cơ ô nhiễm cao do tốc độ đô thị hóa nhanh. Tổng quan về điều kiện tự nhiên,tài nguyên thiên nhiên ,kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố. Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên tại Đà Nẵng 1. Địa hình Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng,vừa có núi, vùng cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẻ vùng đồng bằng ven biển.
Khí hậu: SVTH: Phùng Thị Kim Quyên -3- Luận văn thạc sỹ Kế toán Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: T.S Lê Bảo Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,90C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 28-300C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-230C.
Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 200C. Tài nguyên thiên nhiên: 1. Tài nguyên nước: Nguồn nước cung cấp cho thành phố Đà Nẵng chủ yếu từ ccác sông Cu Đê,Cẩm Lệ, Cầu Đỏ,Vĩnh Điện, tuy nhiên nguồn nước này bị hạn chế do ảnh hưởng của thủy triều(vào mùa khô, tháng 5 và tháng 6). Các tháng khác nhìn chung đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và sinh hoạt của người dân.
Nước ngầm của vùng khá đa dạng, các khu vực có triển vọng khai thác là nguồn nước ngầm tệp đá vôi Hòa Hải-Hòa Quý ở chiều sâu tầng nước 50-60m, khu Hòa Khánh có nguồn nước ở độ sâu 30-90m. Tài nguyên đất: Diện tích toàn thành phhố Đà Nẵng là 1.256,54 km2 ( năm 2006) với các loại đất : cồn cát và đất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu và đất xám, đất đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng. Trong đó, quan trọng là nhóm đất phù sa ở vùng đồng bằng ven biển thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau và hoa quả ven đô; đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và có kết cấu vững chắc thuận lợi cho việc bố trí các cơ sở công trình hạ tầng kỹ thuật. Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: Rừng đặc dụng: 22.745 ha, trong đó đất có SVTH: Phùng Thị Kim Quyên -4- Luận văn thạc sỹ Kế toán Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: T.S Lê Bảo rừng là 15.933 ha; Rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng là 17.468 ha; Rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18.
Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hòa Vang, một số ít ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn. Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m3. Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp. Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch.
Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân. Tài nguyên biển,ven biển. Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km², có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài. Tổng trữ lượng hải sản các loại là 1.
Hàng năm có khả năng khai thác 150.Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Quanh khu vực bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển. Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt… 2. Vai trò của chợ đối với tăng trưởng ngành thương mại và phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
Chức năng chính của chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán hay trao đổi các sản phẩm, hàng hóa khác nhau. Hàng hóa trong chợ rất đa dạng, từ những loại sản phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người đến các chủng loại sản phẩm khác.Chợ kinh doanh theo kiểu vừa bán sỉ, vừa bán lẻ nên lượng khách thường đông vào các ngày cuối tuần.Chợ có vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và phát triển ngành thương mại của thành phố nói riêng. Nó góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động thương mại là cầu nối quan trọng, sống còn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Phát triển cơ sở hạ tầng thương mại nói chung ,hệ thống các chợ nói riêng sẽ tạo điều kiện phát triển dịch vụ - thương mại chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu SVTH: Phùng Thị Kim Quyên -5- Luận văn thạc sỹ Kế toán Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: T.S Lê Bảo vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Thông qua đó các chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng mua bán được sản phẩm, góp phần tạo ra quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và như vậy các dịch vụ sẽ lưu thông, và được thông suốt. Chợ là cầu nối hữu hiệu giữa các nhà kinh doanh với nhau, giữa các nhà kinh doanh với người tiêu dùng. Nó không chỉ đơn thuần là cung cấp hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng, mà còn cung cấp cho nhà sản xuất và người tiêu dùng các hoạt động dịch vụ bổ sung như: địa điểm thuận lợi, thông tin về sản phẩm và môi trường kinh doanh.
Sự phát triển hệ thống chợ trên địa bàn thành phố đã góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế của thành phố, đó là tạo ra doanh thu của hoạt động thương mại, bên cạnh đó còn giải quyết khối lượng lớn việc làm cho lao động. Ngoài ra từ các chợ, lượng hàng hóa luân chuyển là rất lớn do tập trung rất đông các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh.Vì vậy mà số lượng thuế VAT và thuế thu nhập doanh nghiệp thu được từ các thành phần kinh tế này là rất lớn ,tăng nguồn thu ngân sách cho nhà nước. Chợ giữ vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình tái sản xuất mở rộng xã hội, là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển và đem lại lợi ích to lớn cho người tiêu dùng.Cung cấp cho người tiêu dùng đúng chủng loại hàng hoá mà họ cần, đúng thời gian, tại một địa điểm và ở mức giá mà người tiêu dùng chấp nhận được. Khi nhu cầu của người tiêu dùng biến đổi không ngừng, mạng lưới bán lẻ này có những thông tin phản hồi từ người tiêu dùng để đặt hàng đáp ứng những thay đổi đó, nó cũng có thể tác động tới việc tạo nhu cầu mới cho người tiêu dùng thông qua việc bổ sung vào tập hợp hàng hóa.
Nó giúp người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó mà tăng cường thương mại hàng hoá, phát triển thị trường cho các ngành kinh tế và sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước. Hệ thống chợ ngày càng phát triển đã thúc đẩy cho dịch vụ bán buôn, bán lẻ ngày càng phát triển về quy mô cũng như năng lực lưu chuyển hàng hóa đã đóng góp lớn vào quá trình phát luồng những hàng hóa chủ lực của thành phố ra thị trường trong nước cũng như nước ngoài như: thuỷ sản đông lạnh; dệt may,da giày; thiết bị điện, đồ uống (bia, các sản phẩm từ sữa); sợi các loại,thực phẩm hàng ngày…, góp vai trò hết sức quan trọng vào sự SVTH: Phùng Thị Kim Quyên -6- Luận văn thạc sỹ Kế toán Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: T.S Lê Bảo tăng trưởng và phát triển của ngành thương mại. Hệ thống chợ có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội, doanh số bán từ chợ, siêu thị và trung tâm thương mại đóng góp 17,8% trong GDP của thành phố Bên cạnh đó, các chợ còn có vai trò phát luồng hàng hóa dịch vụ cho các tỉnh, thành phố khác và hàng nhập khẩu đến thị trường khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Quy mô và tốc độ tăng trưởng tổng mức bán buôn hàng hóa và dịch vụ xã hội thành phố cao nhất khu vực miền Trung - Tây Nguyên, đóng góp quan trọng trong GDP, tạo việc làm, thu hút nhiều nguồn lực bên ngoài cũng như trong dân cư và nền kinh tế.
Những mặt hạn chế trong hoạt động của các chợ lớn trên địa bàn Thành Phố. Bên cạnh những mặt đạt được ,trong hoạt động các chợ vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế cần phải khắc phục như: Những năm gần đây do đầu tư hàng loạt các cửa hàng, siêu thị xung quanh chợ và đặc biệt là khu vực chợ tự phát trên các tuyến đường.