CHƯƠNG I: TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đen tai nạn thương tích 1. Khái niệm về TNTT [25] Tai nạn thương tích là những thương tổn thực thể trên cơ thể do tác động của năng lượng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện hoặc phóng xạ.) với những mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người. Ngoài ra TNTT còn do thiếu hụt các yếu tổ cần thiết cho sự sổng (ví dụ như các trường hợp đuổi nước, bóp nghẹt hoặc đông lạnh) 1.
Phân loại TNTT [25] Phân loại theo chủ định - TNTT không chủ định (vô ý): Là thương tích gây nên không có chủ ý của những người bị hoặc của những người khác: ngã, TNGT (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không); đuối nước; bỏng; ngộ độc (do ăn uổng, do hóa chất, do thuốc men); súc vật cắn; hóc nghẹn. - TNTT có chủ định: Là những thương tích xảy ra do có sự chủ ý của người bị TNTT hay của cả những người khác, ví dụ: hành hạ trẻ em; đánh nhau; tự tử; giểt người; chiến tranh; bạo lực gia đình. Phân loại TNTT theo nguyên nhân - TNGT: là những trường hợp tai nạn xảy ra do va chạm bất ngờ, nằm ngoài ý muốn của con người; xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cổ đột suất không kịp phòng tránh gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe. - Ngã: là những trường hợp bị ngã, rơi từ trên cao hoặc ngã trên cùng một mặt bằng.
Ngạt thở: là tất cả các trường hợp xảy ra do nguyên nhân nào đó gây tắc nghẽn đường hô hấp dẫn đến ngạt do thiếu ô xy hoặc ngừng tim trong vòng 24h hoặc cần đến sự chăm sóc y te hoặc các biến chứng khác. 5 - Đuối nước: là những trường hợp xảy ra do bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng, dầu.) dẫn đến bị ngạt do thiếu ô xy hoặc ngừng tim dẫn đến tử vong trong vòng 24h. - Do vật sắc nhọn: là những trường họp bị cắt, rách do tác động trực tiếp của các vật sac nhọn trong gia đình như dao, kéo. - Ngộ độc: là những trường họp hít phải, ăn vào, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc cần đến sự chăm sóc y tế.
Tổn thương theo ngộ độc còn có thể phân theo nguyên nhân: ngộ độc thức ăn hoặc ngộ độc do các chất độc khác. - Cháy/bỏng: là tổn thương một hoặc nhiều lóp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa. Các tổn thương do sự phát xạ của các tia cực tím, hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như tổn thương phổi do khói xộc vào cũng được coi là những trường hợp bỏng. - Động vật, côn trùng tấn công: là những trường hợp tổn thương do động vật/côn trùng tấn công, hức, đốt phải.
- Vật cùn roi vào: là những trường hợp nạn nhân bị tổn thương do tác động của vật cùn lên cơ thể. - Điện giật: là những trường hợp do tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện dẫn đến bị TNTT hoặc tử vong. - Bom mìn nổ: là những trường họp trực tiếp bom mìn nổ gây sát thương cho nạn nhân. - Tự tử/có ý định tự tử: là những trường hợp cổ ý (có chủ định) gây tổn thương cho mình.
Các yếu tố nguy cơ 1. Các yếu tố nguy cơ từ môi trường ■ Tác nhân vật lý: nhiệt, điện. ■ Cơ học: ngã, va đập do giao thông, thể thao, động vật tấn công. ■ Hóa học: hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất xét nghiệm.
■ Sinh học: ngộ độc thức ăn, côn trùng đốt. Các yếu tổ nguy cơ từ con người ■ Yếu tố tâm lý xã hội: sự căng thẳng thần kinh, công việc đơn điệu, quan hệ trong gia đình và xã hội không tốt. ■ Đặc tính cá nhân: cẩu thả. không cẩn thận.
■ Yếu tổ bệnh lý như mắc một số bệnh mãn tính, mệt mỏi trong lao động, học tập ■ Kiến thức, kinh nghiệm, hành vi ■ Tuổi đời, trình độ kỹ thuật. Nguy cơ trong gia đình. ■ Nhà cửa, cầu thang, lan can không chắc chắn. ■ Hồ ao không rào.
■ Bếp nấu, nơi để xăng ga không an toàn. ■ Chó mèo không được tiêm phòng không không có xích và rọ mõm. ■ Để phích nước nóng, nồi cơm canh dễ gây bỏng. ■ Thuốc chữa bệnh không bảo quản cẩn thận.
Nguy cơ ở nơi công cộng. ■ Hồ bơi, trượt nước không đủ tiêu chuẩn. ■ Vườn thú không an toàn. ■ Sân bóng, nhà thi đấu chật hẹp, phương tiện cũ không chắc chắn.
■ Đu quay, tàu lượn, tàu trượt không đảm bảo an toàn. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến CĐAT [26] 1. Khải niệm về cộng đồng Cộng đồng có thể là một vùng dân cư hẹp đến một quốc gia (cộng đồng là một làng, xã, một vùng sinh thái, một quốc gia hay một khu vực. Trong phạm vi XDCĐAT ở Việt Nam.
cộng đồng được quy định là một xã/phường/thị trấn bao gồm những người dân sống trong đơn vị hành chính là xã/phường/thị trấn. Khái niệm về an toàn WHO định nghĩa “An toàn" là trạng thái có thể kiểm soát được các yếu tố nguy cơ đối với con người về mặt thể chất, tinh thần để duy trì và nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng. An toàn có nghĩa rộng hơn là không có bạo lực và thương tích. Như vậy khi nói tới an toàn bao giờ cũng phải nghĩ tới hai khái niệm không có thương tích và môi trường không có nguy cơ gây thương tích.
Khái niệm về CĐAT CĐAT là cộng đồng có khả năng kiểm soát và phòng ngừa được tất cả các loại TNTT và các yếu tố nguy cơ gây TNTT tại cộng đồng trong mọi lĩnh vực. Tiêu chí cộng đồng an toàn của Tô chức y tế thế giới WHO đưa ra 6 tiêu chí về CĐAT như nhau [26]: 1) Có Ban Chỉ đạo liên ngành, hoạt động của Ban dựa trên quan hệ cộng tác. phối hợp các nhóm liên ngành để chỉ đạo và chịu trách nhiệm thúc đấy hoạt động an toàn tại cộng đồng. 2) Có chương trình can thiệp dài hạn.
bền vững đối với mọi lứa tuổi, giới, môi trường và hoàn cảnh. 3) Có chương trình tuyên truyền giáo dục cho các nhóm người và môi trường có nguy cơ cao và các chương trình can thiệp đặc thù cho các nhóm người dễ bị tổn thương. 4) Có tài liệu thống kê báo cáo sổ liệu và nguyên nhân thương tích. 5) Có các biện pháp để đánh giá kết quả.
tiến độ thực hiện chương trình và hiệu quả của các cải thiện. 6) Tham gia mạng lưới Cộng đồng an toàn quốc gia và quốc tế. Tiêu chu ấn cộng đồng an toàn Việt Nam - CĐAT Việt Nam được xây dựng trên cơ sở xây dựng các GĐAT, trường học an toàn và các can thiệp phòng chổng TNTT có hiệu quả tại cộng đồng. 8 - Tiêu chuẩn cộng đồng an toàn Việt Nam căn cứ theo quyết định số 170/QĐ-BYT ngày 17/1/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn XDCĐAT, phòng chống TNTT bao gồm 5 nội dung chính như sau [5]: 1) Có BCĐ/Ban chăm sóc sức khỏe ban đầu tại xã, phường, thị trấn với nhiệm vụ chi đạo và thực hiện công tác phòng chống TNTT: hàng năm xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch phòng chổng TNTT/XDCĐAT ở địa phương.
2) Trên 60% HGĐ trong cộng đồng đối với khu vực đồng bằng và trung du, trên 50% đổi với khu vực miền núi nhận thức được nguy cơ gây TNTT tại cộng đồng và tham gia tích cực dự phòng TNTT. 3) Giảm 80% nguy cơ gây thương tích tại cộng đồng và xây dựng được các mô hình an toàn cho các nhóm nguy cơ cao tại cộng đồng. 4) Tổ chức được hệ thống mạng lưới tình nguyện viên cùng với nhân viên y tế thôn bản để giám sát, ghi chép, phân tích được trên 80% số trường hợp TNTT và thực hiện tốt hoạt động sơ cấp cứu ban đầu. 5) Giảm 10% tổng số trường họp TNTT so với năm trước (5-7% đổi với khu vực miền núi).
Tình hình TNTT trên thế giói và ở Việt Nam 1. Tình hình TNTT trên thế giới: Hàng năm trên thế giới đã có ít nhất 5,5 triệu người chết, gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viền do TNTT. Đây là nguyên nhân đứng thứ 4 trong 10 nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất, thiệt hại ước tính trung bình chiếm 5-6% tổng thu nhập quốc dân. Mức độ TNTT rất khác nhau giữa các nước và giữa các khu vực.
Trong số trên 5 triệu người chết do TNTT hàng năm có tới 2 ưiệu người ở các nước đang phát triển [13], [28]. Ở Châu Âu mồi năm có 800.000 người chết do thương tích chiếm khoảng 8,3% so với tất cả các loại tử vong khác. Tại khu vực Tây Thái bình dương sổ tử vong mỗi năm do TNTT là khoảng 1,2 triệu người tức là khoảng 3.300 người chết một ngày. Tại khu vực Đông nam Á hàng năm có khoảng 1,4 triệu người tử vong do TNTT chiếm 16% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
Ước tính cứ mỗi trường hợp tử 9 vong có 10-20 trường hợp phải nhập viện, 50 trường hợp phải cấp cứu và trên 100 trường hợp bị thương nhẹ [22], [26]. Theo báo cáo của WHO hàng năm có 875.000 trẻ em dưới 18 tuổi bị chết do TNTT và con số này trên thực tế còn cao hơn rất nhiều. Nghiên cứu của WHO và UNICEF cũng cho thấy 98% các trường hợp TNTT trẻ em là ở các nước đang phát triển. Ô các nước trong khu vực như Indonesia.
Malaysia, Thái Lan, TNTT là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em [26]. Trong số các nguyên nhân gây TNTT, TNTT do giao thông đường bộ là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng thương tích ở mọi khu vực. Theo WHO ước tính có khoảng 1,2 triệu người bị chết do các vụ va chạm mỗi năm và khoảng 50 triệu người bị thương, con số này dự đoán sẽ tăng lên khoảng 65% trong vòng 20 năm tới nếu không có cam kết cho việc phòng chống và sẽ là nguyên nhân thứ ba của gánh nặng bệnh tật và thương tích toàn cầu [22], [26]. Ở Bangladesh, TNGT đường bộ là một vấn đề chính có liên quan đến Y tế công cộng.
Viện Phân tích của Bangladesh, trong các ấn phẩm phát hành hàng năm của mình đã đưa ra sổ liệu liên quan đến các TNTT giao thông đường bộ như sau: Tổng cộng các vụ tai nạn là 1521 vào năm 1987 nhưng đến năm 2000 con số tai nạn là 3419.