CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là giấy chứng nhận) đã nêu: Trong thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp để đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận theo Nghị quyết số 07/2007/QH12 ngày 12 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008; các địa phương đã tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận và kết quả đạt được trong các năm qua là rất lớn. Tuy nhiên, việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận một số loại đất còn chậm, nhất là đất chuyên dùng và đất ở đô thị; lượng giấy chứng nhận đã ký chưa trao cho người được cấp ở một số địa phương còn tồn đọng nhiều; việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai còn chậm, chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng chưa cao; việc cập nhật, chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính chưa được thực hiện đầy đủ, thường xuyên theo quy định. Do vậy mà Nhà nước trong những năm qua đã ban hành một số quy định liên quan đến việc kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận, lập, quản lý, chỉnh lý hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai nói chung và cơ sở dữ liệu địa chính nói riêng trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Đây là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có cơ sở thực hiện các nhiệm vụ của mình, đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. Tuy nhiên, các văn bản pháp quy liên quan đến lĩnh vực xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính còn những hạn chế như: - Đây là một lĩnh vực công tác mới, hệ thống văn bản còn chưa thực sự đồng nhất, có thời điểm chỉ quy định việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, 5 có thời điểm lại quy định việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. - Hầu hết các văn bản pháp quy hiện có hầu hết đều tập trung vào quy định xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và các quy định này chưa mang tính chất ổn định, thường xuyên có sự thay đổi, chỉnh sửa gây lúng túng cho các địa phương trong quá trình thực hiện. - Chính quyền các cấp chưa nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí và ý nghĩa của công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính đối với nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai.
Đứng trước thực tiễn trên cho thấy việc hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thực hiện công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính có hiệu quả là nhiệm vụ bức thiết nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai theo hướng chuyên nghiệp, chính xác, hiện đại. Cơ sở pháp lý của đề tài 1. Các văn bản cấp Trung ương - Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên đề cập đến công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và tại Thông tư này quy định: Khái niệm, thành phần của cơ sở dữ liệu địa chính, yêu cầu của việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, lộ trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên phạm vi cả nước.
[1] - Thông tư 17/2010/TT-BTNMT ngày 04 tháng 10 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về chuẩn dữ liệu địa chính. Trong đó quy định: Kỹ thuật chuẩn dữ liệu địa chính, xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính. Tại Thông tư này quy định: VPĐK cấp tỉnh có nhiệm vụ: Lập và quản lý toàn bộ hồ sơ địa chính đối với tất cả các thửa đất trên địa bàn cấp tỉnh; cấp hồ sơ địa chính cho VPĐK cấp huyện và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu địa chính và phát triển hệ thống thông tin đất đai; rà soát việc nhập dữ liệu thuộc tính địa chính trong quá trình thực hiện thủ tục đăng ký biến động về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; VPĐK cấp huyện có nhiệm vụ: Lưu trữ, quản lý và chỉnh lý toàn bộ hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính đối với tất cả các thửa đất trên địa bàn cấp huyện. - Công văn số 1159/TCQLĐĐ - CĐKTK ngày 21 tháng 9 năm 2011 của Tổng cục quản lý đất đai về việc hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính.
Văn bản này đã hướng dẫn chi tiết một số quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. [14] - Thông tư số 04/2013/TT-BTNMT ngày 24 tháng 4 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Đây là văn bản pháp quy mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.[6] Tại Thông tư này các quy định về công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, trong đó có công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính đã đầy đủ, toàn diện, phù hợp hơn với tình hình thực tế của các địa phương, bao gồm: các quy định về quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, quy định về quản lý, khai thác sử dụng, cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai. Các văn bản cấp tỉnh - Hướng dẫn số 749/TNMT-ĐKĐĐ ngày 14 tháng 7 năm 2008 của Sở Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Phúc hướng dẫn quy trình thành lập hồ sơ địa 7 chính và quy định trách nhiệm các cấp trong công tác thành lập hồ sơ địa chính trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
[10] - Hướng dẫn số 840/HD-STNMT ngày 15 tháng 8 năm 2012 của Sở Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Phúc hướng dẫn quy trình kê khai đăng ký, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Khái quát về hồ sơ địa chính 1. Khái niệm hệ thống hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chính là hệ thống các tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách. chứa đựng những thông tin cần thiết về đất đai để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình.
Hệ thống tài liệu này được thiết lập trong quá trình đo đạc, thành lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai ban đầu và đăng ký biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hồ sơ địa chính bao gồm: Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. [1] * Bản đồ địa chính Trong hệ thống tài liệu hồ sơ địa chính phục vụ thường xuyên cho quản lý thì bản đồ địa chính là loại tài liệu quan trọng nhất. Bởi bản đồ địa chính cung cấp các thông tin không gian đầu tiên của thửa đất như vị trí, hình dạng, ranh giới thửa đất, ranh giới nhà, tứ cận,.
Những thông tin này giúp nhà quản lý hình dung về thửa đất một cách trực quan. Bên cạnh các thông tin không gian bản đồ địa chính còn cung cấp các thông tin thuộc tính quan trọng của thửa đất và tài sản gắn liền trên đất như: loại đất, diện tích pháp lý, số hiệu thửa đất, loại nhà v.[1] * Sổ mục kê đất đai + Sổ mục kê đất đai: là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi về các thửa đất, đối tượng chiếm đất nhưng không có ranh giới khép kín trên tờ bản đồ và các thông tin có liên quan đến quá trình sử dụng đất. Sổ 8 mục kê đất đai được lập để quản lý thửa đất, tra cứu thông tin về thửa đất và phục vụ thống kê, kiểm kê đất đai. [1] + Sổ mục kê gồm các thông tin: Thửa đất gồm mã số, diện tích, loại đất, giá đất, tài sản gắn liền với đất, tên người sử dụng đất và các ghi chú về việc đo đạc thửa đất.
Đường giao thông, công trình thuỷ lợi và các công trình khác theo tuyến mà có sử dụng đất hoặc có hành lang bảo vệ an toàn gồm tên công trình và diện tích trên tờ bản đồ. Sông, ngòi, kênh, rạch, suối và các đối tượng thủy văn khác theo tuyến gồm tên đối tượng và diện tích trên tờ bản đồ. Sơ đồ thửa đất kèm theo sổ mục kê đất đai + Tất cả các trường hợp biến động phải chỉnh lý trên bản đồ địa chính thì đều phải chỉnh lý trên sổ mục kê để tạo sự thống nhất thông tin. * Sổ địa chính + Sổ địa chính là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi về người sử dụng đất, các thửa đất của người đó đang sử dụng và tình trạng sử dụng đất của người đó.
Sổ địa chính được lập để quản lý việc sử dụng đất của người sử dụng đất và để tra cứu thông tin đất đai có liên quan đến từng người sử dụng đất. [1] + Sổ địa chính gồm các thông tin: Tên và địa chỉ người sử dụng đất Thông tin về thửa đất gồm: số hiệu thửa đất, địa chỉ thửa đất, diện tích thửa đất phân theo hình thức sử dụng đất (sử dụng riêng hoặc sử dụng chung), mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, những hạn chế về quyền sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính về đất đai chưa thực hiện, số phát hành và số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Những biến động về sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất. 9 + Sổ địa chính phải chỉnh lý trong các trường hợp sau: [1] Có thay đổi người sử dụng đất, người sử dụng đất được phép đổi tên.
Có thay đổi số hiệu, địa chỉ, diện tích thửa đất, tên đơn vị hành chính nơi có đất. Có thay đổi hình thức, mục đích, thời hạn sử dụng đất. Có thay đổi những hạn chế về quyền của người sử dụng đất. Có thay đổi về nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất phải thực hiện.
Người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.