ĐẶT VẤN ĐỀ Luồng (Dedrocalamus membranaceus Munro) là cây thuộc họ phụ tre (Bambusoidea) mọc theo cụm, phân bố chủ yếu ở rừng nhiệt đới Châu Á và Châu Phi. Ở nước ta Luồng được gây trồng rộng rãi khắp nơi nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Nghệ An… Mai Châu là một huyện của tỉnh Hòa Bình có diện tích rừng Luồng lớn được trồng tập trung tại các xã như Phúc Sạn, Vạn Mai, Tân Mai. Theo số liệu hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của UBND huyện Mai Châu năm 2018, diện tích rừng Luồng của huyện tính đến tháng 12 năm 2017 là gần 6000 ha. Luồng là cây đa tác dụng, ngoài tác dụng phòng hộ, rừng Luồng có tác dụng chính là: cung cấp thân cây để sử dụng trong xây dựng, nguyên liệu giấy, ván ép, vật liệu đan lát,.
cung cấp măng sử dụng làm thức ăn; than thân cây dùng làm than hoạt tính; mùn cưa Luồng được sử dụng để nuôi trồng nấm… Do tính đa dạng sản phẩm mà nhu cầu thị trường đối với Luồng ngày càng cao, nguồn thu từ rừng Luồng ngày càng có ý nghĩa đối với đời sống của người dân địa phương. Mặt khác, việc trồng và chăm sóc rừng Luồng lại đơn giản, dễ thành công, trồng một lần khai thác nhiều lần, chu kỳ kinh doanh dài, trồng nhanh được khai thác (sau khoảng 5 năm). Vì vậy, cây Luồng được chọn làm một trong số cây trồng rừng chính của cả nước nói chung và của huyện Mai châu nói riêng. Tuy nhiên, trong phát triển rừng Luồng hiện nay của huyện, cụ thể là tại hai xã Phúc Sạn và Tân Mai đang có nguy cơ bị thoái hóa.
Do vị trí của hai xã nằm khu vực lòng hồ Sông Đà nên cây Luồng đã được trồng ở đây theo thiết kế của dự án nhằm tác dụng phòng hộ và tạo thêm thu nhập cho người dân. Trong những năm gần đây, nhu cầu của thị trường về cây Luồng rất lớn, nhất là trong thời gian qua có thêm một số nhà máy chế biến bột giấy, ván ép c 2 như Hapaco Đông Bắc, công ty c phần BWG đi vào hoạt động làm cho nhu cầu nguyên liệu từ cây Luồng tăng rất cao. Người dân vì lợi nhuận trước mắt đã khai thác quá mức số cây Luồng, không đúng kỹ thuật làm phá vỡ kết cấu rừng, mặt khác một số sâu bệnh hại phát triển đã làm cho rừng Luồng suy giảm cả về số lượng đến chất lượng. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Đánh giá thực trạng rừng Luồng ở khu vực xã Phúc Sạn, xã Tân Mai, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình” được thực hiện là vô cùng cần thiết từ đó làm cơ sở để đưa ra các giải pháp phát triển rừng theo hướng bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường của địa phương.
c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng qu n nghi n cứu tr n thế giới Nh ng nghi n c u v phân oại, phân tre trúc tr n th gi i Công trình nghiên cứu tre, trúc trên thế giới của tác giả Munro được xuất bản vào năm 1868 với tựa đề: “Nghiên cứu về Bambusaceae”. Sau đó là đến tác phẩm của tác giả Gamble viết về “Các loài tre trúc ở Ấn Độ” được xuất bản vào năm 1896. Trong tác phẩm này, tác giả đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số loài tre trúc phân bố ở Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Inđônesia.
Theo ý kiến của Gamble (1896) thì các loài tre trúc là loài thực vật chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Ví dụ: loài Bambusa polymorphe phân bố trong tự nhiên đã chỉ thị cho đặc điểm đất đủ ẩm gần như quanh năm và có hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng tương đối cao: “Đất có độ phì tự nhiên cao hay đất tốt”; do đó, nó phân bố trong kiểu rừng tự nhiên thường xanh, ẩm. Nhưng trái lại, loài Dendrocalamus strictus phân bố trong tự nhiên lại chỉ thị cho điều kiện đất đai khô hạn, thuộc kiểu rừng tự nhiên, rụng lá. Khi đề cập tới một số khía cạnh của nhân tố khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, t chức FAO (1992), (2007) đã đưa ra danh lục 192 loài, cũng như đặc điểm phân bố theo đai độ cao của một số loài tre trúc.Z (1988), (1996), đã nghiên cứu về chi Dendrocalamus làm cơ sở để phân loại một số loài trong chi ở Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.
Tác giả Zhu Zhaohua (2000) cho biết: Ở đảo Hải Nam rất gần với Việt Nam đã phát hiện được 46 loài tre nứa, trong đó có 38 loài phân bố tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa; tại tỉnh Vân Nam c 4 có 250 loài đã được phát hiện, diện tích tre nứa đạt tới 331.000 ha, riêng loài Phyllostachys heterocycta var. pubescens chiếm 80% diện tích kể trên. Về nhân tố khí hậu: D.Tewari đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80% rừng tre trúc phân bố ở Châu Á, tất cả các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới của thế giới đều có tre trúc xuất hiện. Độ cao phân bố của chúng từ sát biển lên tới 4.
Tác giả đã xây dựng được vùng phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố một số chi tre trúc quan trọng của thế giới. Nhìn vào bản đồ phân bố này có thể thấy được trung tâm phân bố tre trúc tập trung vào giải nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ. Về nhân tố địa hình: theo D. Tewari (2001) thì Ấn Độ là nước có diện tích tre trúc lớn nhất thế giới, khoảng 2 triệu ha, phân bố từ sát biển lên tới độ cao 3.
Có 50% số loài tập trung phân bố ở phía Tây Ấn Độ, đa số các loài có thân mọc cụm như Bambusa, Dendrocalamus, Gigantochloa, Oxytenanthera. Tác giả cũng đưa ra dẫn liệu về độ cao phân bố của một số loài cụ thể, nhưng không thấy đề cập các loài trong chi Indosasa. T chức Plant Resources of South-East Asia (Prosea) xuất bản tập “Prosea 7: Bamboos” đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á. 2 Nh ng nghi n c u v kỹ thuật nhân gi ng tre trúc Theo nghiên cứu của A.
Ramanatha (2000) cho thấy nhân giống sinh dưỡng là phương pháp có thể áp dụng với hầu hết các loài tre. Nhân giống bằng phương pháp giâm hom cành là một phương pháp có thể sử c 5 dụng với tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp ph biến cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn. Nghiên cứu của Fu Maoyi và các cộng sự (2000) [34] về giâm hom bằng cành cũng cho thấy chọn cành để giâm hom tốt nhất có độ tu i 1- 2 năm và lấy từ cây 3 năm tu i. Trồng cây hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao.
Nghiên cứu của Victor Cusack (1997) [37] cho thấy, nhân giống bằng gốc có thể đạt được tỷ lệ sống 100%. Tuy nhiên, chỉ nên áp dụng cho những loài tre có kích thước nhỏ. Trong phương pháp này, gốc được đào bao gồm rễ và phần đất xung quanh, mỗi gốc có từ 3 - 4 mắt, phần trên của thân khí sinh để lại từ 3 - 4 đốt. Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô cho các loài tre cũng đã được một số nước trên thế giới thử nghiệm và đã đạt được những thành công bước đầu.
Trung tâm nghiên cứu tre Trung quốc (2008) đã đưa ra một số loại môi trường và mô cấy thường được sử dụng là: Phần mô cắt ở mắt có chứa 1 chồi nách được đặt trong môi trường bao gồm muối khoáng cơ bản. 3 Nh ng nghi n c u v kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác Luồng + Chọn lập đị : Thông thường Tre, Luồng thường ưa thích các loại đất sét và sét pha cát. Tuy nhiên, dù loại đất nào thì cũng phải thoát nước tốt vì măng Tre, Luồng không chịu được ngập nước, độ pH thích hợp cho Tre, Luồng từ 4,5 - 6 (Bernard Kingomo, 2007) [32]. Theo Dai Qihui (1998) [33] nên chọn nơi có độ dày tầng đất cao, đất còn tốt, thoát nước tốt, ẩm.
Nên trồng ở các thung lũng, dọc bờ sông, suối, cũng có thể trồng ở chân và sườn đồi. Nếu trồng nơi đất khô, xấu thì Tre, Luồng có thể sống nhưng măng, thân sẽ nhỏ và mang lại hiệu quả kinh tế kém. Tại Indonesi, Sutiyono (2004) [36] đã tiến hành nghiên cứu dinh dưỡng đất của rừng Dendrocalamus asper Back. Kết quả nghiên cứu dinh dưỡng của c 6 đất ở các tầng từ 0 - 20cm và 20 - 40cm dưới tán rừng, tác giả chỉ ra độ chua, hàm lượng mùn, ni tơ, ka li, các ion K+, Na+, Ca+, Mg+ và các cation trao đ i đều rất thấp ở cả 2 tầng đất.
Nghiên cứu cho thấy, nhìn chung hàm lượng các chất dinh dưỡng đều rất thấp, riêng phốt pho t ng số là cao ở cả 2 tầng. Về thành phần cơ giới của đất, ở tầng từ 0 - 20cm thành phần cơ giới là sét với hơn 45% là sét và 34% là cát. Silicate (Si) ở tầng 0 - 20cm cao hơn so với tầng từ 20 - 40cm. Nguyên nhân là do quá trình phân hủy lá ở tầng đất mặt nhanh hơn so với tầng đất sâu.
+ Xử lý thực bì và chuẩn bị đất trồng: Theo Dai Qihui (1998) [33] có 3 phương pháp làm đất thường được áp dụng là: 1) Làm đất toàn diện (cuốc đất sâu 20 cm, sau đó đào hố theo kích thước và cự ly theo thiết kế); 2) Làm đất theo băng (cày đất theo băng có chiều rộng 1-2 m và sâu 20 cm, cự ly giữa các băng cày 1 - 2 m); 3) Làm đất cục bộ theo hố (đào các hố theo cự ly mong muốn, kích thước hố chiều dài x chiều rộng x chiều sâu là 50cm x 50cm x 40cm hoặc 100cm x 50cm x 40cm). Mật độ trồng với một số loài như Dendrocalamus giganteus cự ly giữa các khóm là 10m x 10m (tương đương 100 khóm/ha) hoặc Dendrocalamus hamiltonii cự ly giữa các khóm là 7m x 7m (tương đương 205 khóm/ha). Các nhà kỹ thuật cũng khuyến cáo nên đào rãnh và lên líp để trồng Luồng.