Đặt vấn đề. Giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu của dé tai này là gi phạm vi nghiên cứu ,nghiên cứu trong khoảng thời gian nào và ở đâu.2 Chương 2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Nêu lên những khái niện cơ bản liên quan đến đề tài như:khái niệm về nghèo đói, nghèo tuyệt đối, tương đối. Nêu lên những tiêu chí để xác định hộ nghèo và nguyên nhân dẫn tới nghèo đói. Trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Đưa ra những chỉ tiêu cần tính toán trong đề tài.3 Chương 3 Tổng quan Giới thiệu sơ nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.của địa phương và giới thiệu sơ lược về thực trạng nghèo đói của địa phương.4 Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận = ao a weer ee ¬_-.— Trình bày những đặc điểm của người nghèo, về điều kiện sống, những tài sản họ sở hữu Trình bày những sinh kế và thu nhập của người nghèo Nêu lên những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói.5 Chương 5 Kết luận và kiến nghị. Trình bày ngắn gọn thực trạng nghèo đói của địa phương và những nguyên nhân dẫn tới nghèo đói, trả lời câu hỏi mà mục đích nghiên cứu đã đề ra. Trình bày vắn tắt những biện pháp đã đề xuất trong đề tài. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Quan niệm chung về nghèo đói Trong đời sống thực tiễn cũng như trong các nghiên cứu khoa học chúng ta thường nghe các khái niệm đói nghèo, nghèo khổ, phân hoá giàu nghèo. trong xã hội học cũng đề cập tới các thuật ngữ như: phân tầng xã hội, phân cực xã hội, bất đồng đẳng thu nhập. Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, nhà xã hội học William Wilson đã đưa ra thuật ngữ underclass (tầng lớp hay giai cấp dưới) để chỉ nhóm những người nghèo. Theo đó họ được coi là những người không có trình độ và kỹ năng, luôn chịu sự tách biệt xã hội, không có khả năng tiếp cận hoặc không có được các mối liên hệ với với nhiều cá nhân khác, với những thể chế có thể đem lại cho họ nguồn lợi về kinh tế và các vị thế xã hội (Lương Hồng Quang 2001).
Theo cách nhìn nhận khác, Solages (1996) đã cho rằng nghèo khổ cùng cực là một điều kiện sống bị hạn chế bởi suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường ô nhiễm, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao và tuổi thọ thấp còn tệ hại hơn bất kỳ định nghĩa nào khả di chấp nhận được về một cuộc sống bình đị nhất của con người. WB (1998) đã đưa ra một khái niệm nghèo mang tính khái quát tương đối cao. Theo đó nghèo không chỉ là có thu nhập thấp mà còn có điều kiện sống, điều kiện chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, điều kiện vệ sinh thấp, không có quyền lực và nghề nghiệp. Đối với Việt Nam, trong bao cáo của Action Aid Vietnam - một thoáng về cái nghèo ở Việt nam- Heather Grady đã đưa ra một quan niệm về người nghèo ở Việt Nam là những người không có khả năng tiếp cận hoặc kiểm soát các nguồn lực xã hội, kinh tế và chính trị và do đó họ không có khả năng các nhu cầu cơ bản của con người một cách có phẩm giá (Lương Hồng Quang, 2001).
Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học kinh tế và xã hội học đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa ra một định nghĩa chính xác về nghèo, nhưng do sự khác biệt về không gian, về thời gian và về điều kiện sống cũng như tính nhiều mặt của van đề nghèo mà những định nghĩa mới chỉ dừng lại ở mức tương đối. Tóm lại, Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có các điều kiện vật chất và tỉnh than để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở dưới mức sống tối thiểu. Mức sống tối thiểu ở đây được hiểu là các điều kiện ăn, mặc ở và những nhu cầu khác như: văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại.chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường. Mức sống tối thiểu của từng nước sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, và một phần lớn là tuỳ thuộc vào mức độ văn minh đã đạt được của từng thời đại và của mỗi quốc gia.
Như Marx (1960) đã kết luận “Đối với một nước và một thời đại nhất định, mức độ cần thiết về những tư liệu sinh hoạt cũng nhất định”. Về cơ bản người nghèo là những người phải sống dưới mức được định nghĩa như là chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một khoảng thời gian và không gian xác định. Cốt lõi của khái niệm này là thiếu một mức độ tối thiểu về nhân lực và vật lực để có thể đạt được một mức sống hợp lý. Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng nghèo là một khái niệm động hơn là tĩnh.
Những người nghèo không phải là một tang lớp xã hội tĩnh hay không có sự dịch chuyền. Trong thực tế sau một thời gian nhiều cá nhân hoặc hộ gia đình đã vượt lên trên ngưỡng nghèo, trong khi một số khác lại bị trượt xuống dưới sự nghèo đói. Do đó các ước tính về nghèo luôn mang tính nhạy cảm. Khái niệm về đói: Đói là sự khổ tuyệt đối, sự bần cùng, là tình trạng con người không có ăn hoặc không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết, là sự đứt đoạn trong nhu cầu ăn.
Nói cách khác đói là tình trạng ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để con người duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức dé lao động. : Đói gay gắt kinh niên; là tình trạng thiếu ăn thường xuyên. ˆ Đói gay gắt cấp tính; là đói kinh niên kèm theo những hoàn cảnh khó khăn đột xuất, bất ngờ như: thiên tai, mất mùa, bệnh tật.rơi vào cùng cực không có gì để sống không có lương thực, thực phẩm dé ăn, có thé dẫn đến cái chết, do đó cần cứu trợ khẩn cấp. Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối - Nghèo tuyệt đối: là việc không thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhăm duy trì cuộc sống của một con người.
Thuật ngữ nghèo tuyệt đối là để chỉ một mức tồn tại tối thiểu mà bất kỳ một cá nhân hay hộ gia đình nào đang sống dưới mức đó. Đó là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống con người, mà những nhu cầu này đã được thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. - Nghéo tương đối: là tinh trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm, trong một không gian xác định nào đó. Thuật ngữ nghèo tương đối chỉ một mức độ của điều kiện sống mà ở đó những người của tầng lớp dưới được xem là kém phát triển hơn trong tương quan so sánh với những người thuộc tầng lớp khác.
Như vậy sự phân biệt giữa nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối ở chỗ: nghèo tuyệt đối đề cập tới tiêu chuẩn về các nhu cầu cần thiết tối thiểu của một con người, trong khi nghèo tương đối nói đến vị trí mức sống phổ biến trong một cộng đồng. Ngưỡng nghèo Nhằm phân biệt giữa một nhóm nghèo và một nhóm ngoài nghèo ta cần phải có một ta cần có một tiêu chí hay một ranh giới. Ranh giới đó được gọi là ngưỡng nghèo. Theo WB, một người nào đó có mức sống dưới mức tối thiểu tại một thời điểm nào đó được coi là nghèo Giới hạn tối thiểu này này dựa trên một rỗ các loại hàng hóa, dich vụ được dùng để thoả mãn những nhu cau cơ bản tối thiểu bao gồm dinh dưỡng, nhà ở, quần áo giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cá nhân.
Một cách tiếp cận khác thì ngưỡng nghèo đói phải là số tiền chi trả cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống bao gồm: ăn, mặc, ở, y tế học hành ., là tập hợp những biến số phụ thuộc vào mức thu nhập, trình độ văn hoá, tâm lý, thói quen tiêu dùng .sẽ thay đổi theo tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập ( Trang Thị Huy Nhất 2002 “Tap san khoa học kỹ thuật nông | dm nghiệp”) Ngưỡng nghèo theo thu nhap. Nghèo thuần tuý dựa trên tiêu chí thu nhập là cách tiếp cận thông qua thu nhập dé đo lường mức độ nghèo dựa trên một ngưỡng nghèo về thu nhập. Một người được xem là nghèo nếu có mức thu nhập thấp hơn mức tối thiểu cần phải có để đáp ứng đủ nhu cầu cơ bản của một người bình thường. Mức thu nhập tối thiểu này gọi là ngưỡng nghèo theo thu nhập.
Đây là tiêu chí chính thức mà Việt Nam sử dụng để đánh giá tình trạng nghèo thông qua việc ấn định của Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho từng giai đoạn cụ thể. Trong giai đoạn 2001-2005 tỉnh Bến Tre áp dụng tiêu chí dé xác định hộ nghèo như sau.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và thành thị. Day là những hộ thuộc điện đói.000 đổồng/ngườitháng đến dưới 80.000 đồng/người/háng ở nông thôn và từ 50.000 đồng/người/tháng và đến dưới 100.000 đồng /người / tháng ở thành thị.000 đồng/người/tháng đến đưới 100.000 đồng /người / tháng ở nông thôn và đến đưới 100.000 đồng /người / tháng ở thành thị.000 đồng / người / tháng đến dưới 120.000 đồng /người / tháng ở nông thôn và đến dưới 150.000 đồng “người / tháng ở thành thị. Day là những hộ có kha năng thoát nghèo cao nhất (BCD.
X DGN&GOVL tỉnh Bến Tre) Ngưỡng nghèo theo chỉ tiệu. Hiện nay, để đo lường mức độ nghèo của một quốc gia, người ta thường dựa theo tiêu chí tiêu dùng. Đây cũng là tiêu chí phổ biến mà các tổ chức WB, Oxfam thường sử dụng. Ngưỡng nghèo theo chỉ tiêu là giới hạn tối thiểu về chỉ tiêu để đạt được một phúc lợi nhằm thoả mãn những nhu cầu cần thiết tối thiểu cho con người (WB, 1999).
Nguyên nhân nghèo đói Việc xác định được nguyên nhân dẫn tới nghèo đói rất quan trọng đây là cơ sở đề ra các giải pháp hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo có hiệu quả. Theo Nguyễn Hữu Nhân (2004) thì nguyên nhân của nghèo đói có thể chia thành các nhóm nguyên nhân sau. Do chính bản thân các đối tượng nghèo không biết làm ăn, thiếu hoặc không có vốn, đông con hoặc neo đơn, thiếu lao động, ăn tiêu lãng phí, lười lao động , mắc phải các tệ nạn xã hội. Do điều kiện tự nhiên và môi trường như: đất canh tác ít, đất xấu, điều kiện thời tiết khí hậu không thuận lợi (thường bị thiên tai, mat mùa .) bat lợi về địa lý như xa xôi, hẻo lánh không có đường giao thông.