Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về làng nghề 1. Trên thế giới Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của N. Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council International – Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống.
Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn. Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30 % đã giải quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn. Hay Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyền thống dựa theo “Luật nghề truyền thống” [21].
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với những khía cạnh và các mục đích khác nhau. Trên khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều công trình nghiên cứu về làng nghề ở nhiều cấp: Một số công trình như: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” [Bùi Văn Vượng, 1998]. Tác giả đã tập trung trình bày các loại hình làng n 5 nghề truyền thống như: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm, trạm khắc đá, dệt, thêu ren, giấy dó, tranh dân gian, dệt chiếu, quạt giấy, mây tre đan, ngọc trai, làm trống. Ở đây chủ yếu giới thiệu lịch sử, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, tư tưởng, kỹ thuật, các bí quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật của các nghệ nhân và các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam.
Trong cuốn “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa” [Dương Bá Phượng, 2001], tác giả đã đề cập khá đầy đủ từ lý luận đến thực trạng của làng nghề: từ đặc điểm, khái niệm, con đường và điều kiện hình thành làng nghề, tập trung vào một số làng nghề ở một số tỉnh với các quan điểm, giải pháp và phương hướng nhằm phát triển các làng nghề trong CNH – HĐH. Nhìn chung các tác giả đã làm rõ về khái niệm, lịch sử phát triển, đặc điểm, thực trạng sản xuất và xu hướng phát triển của các làng nghề. Ở khía cạnh môi trường: Gần đây, trong các nghiên cứu về làng nghề, vấn đề môi trường đang được nhiều tác giả quan tâm, thực tế thì vấn đề này đang gây nhiều bức xúc và nan giải đối với kinh tế xã hội nói chung: Cuốn sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường”, [Đặng Kim Chi và nhóm cộng sự, 2005]: Đây là một công trình nghiên cứu tổng quát nhất về vấn đề làng nghề và thực trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề hiện nay. Tác giả đã nêu rõ từ lịch sử phát triển, phân loại, các đặc điểm cơ bản làng nghề cũng như hiện trạng kinh tế, xã hội của các làng nghề Việt Nam hiện nay.
Cùng với đó là hiện trạng môi trường các làng nghề (có phân loại cụ thể 5 nhóm ngành nghề chính). Qua đó cũng nêu rõ các tồn tại ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của làng nghề, nêu dự báo phát triển và mức độ ô nhiễm đến năm 2010, một số định hướng xây dựng chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền vững và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loại hình làng nghề của Việt Nam. n 6 Qua nghiên cứu của tác giả, "100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép. Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi.
Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề". Nghiên cứu của PGS.TS Đặng Kim Chi cùng các cộng sự tại 3 làng nghề Bắc Ninh cho thấy môi trường xung quanh các làng nghề đã bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê – Bắc Ninh): nồng độ CO cao hơn 5mg/l so với TCCP (28 – 36 mg/l).
Bụi ở khu vực dân cư có nồng độ cao hơn TCCP từ 1,3 đến 3 lần. CO tại khu vực sản xuất cao gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA; tại làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội: Không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao lớn hơn TCCP 12 lần, tiếng ồn lớn hơn 28 lần TCCP, bụi hơn 6 lần, nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ không khí từ 4 – 5 0C; làng nghề tái chế nhựa Minh Khai: nồng độ bụi lớn hơn TCCP 1h và 24h là 1- 4 lần và 3 - 6 lần, nồng độ HCl cao hơn TCCP 1,6 lần. Bên cạnh đó còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả khác về tình trạng môi trường và sức khỏe tại các làng nghề: Nghiên cứu về “Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng nghề Việt Nam”, các tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương, Lê Vân Trình (2005) đã nêu một số nét về lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam. Môi trường và sức khoẻ người lao động.
An toàn sản xuất làng nghề, các biện pháp phòng ngừa. Chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho người lao động làng nghề. n 7 Cuốn “Nghiên cứu nguy cơ sức khoẻ ở các làng nghề tại một số tỉnh phía Bắc và giải pháp can thiệp” của tác giả Nguyễn Thị Liên Hương (2006) cho thấy tình trạng sức khỏe các làng nghề phía Bắc đều trong tình trạng báo động. Tỷ lệ người lao động có phương tiện bảo hộ đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động thấp (22,5%); 100% các hộ sản xuất CBLT-TP nước thải không qua xử lý, đổ thẳng ra cống rãnh.
Nồng độ các chất khí gây ô nhiễm trong môi trường (H2S, NH3…) có đến 3/5; 1/5 mẫu không đạt yêu cầu. Tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp chiếm 34,7%, bệnh về da chiếm tới 37,3%. Tại các làng nghề tái chế có mức độ ô nhiễm cao và mức độ ô nhiễm nghiêm trọng. Qua nghiên cứu của Phan Thúy Yến và các cộng sự tại làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên) cho thấy kết quả xét nghiệm đối với người lao động: δALA/niệu > 10mg/l chiếm tới 67%; những người có số lượng hồng cầu giảm chiếm 19,4%; những người mắc bệnh do nhiễm chì chiếm 67,7%.
Hay đối với các làng nghề Bắc Ninh, điển hình như làng nghề Phong Khê, Phú Lâm có khoảng 50 xí nghiệp, với 70 phân xưởng sản xuất, khối lượng hàng hóa từ 18.000 tấn sản phẩm/năm, nhưng đồng thời thải vào môi trường 1.500 m3 nước thải/ngày với hàm lượng coliform lớn hơn TCCP hơn 100 lần. Những đề tài này nhìn chung đã giải quyết được vấn đề lý luận cơ bản về các làng nghề, hiện trạng và xu hướng phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường và một số giải pháp. Nhưng các đề tài đi sâu vào một làng nghề nào đó thì hầu như chưa nghiên cứu một cách toàn diện nhất. Mỗi khu vực làng nghề có những điều kiện và thực tế khác nhau cho sự phát triển và bảo tồn.
Hơn nữa, mỗi khu vực bị ô nhiễm cũng có những nguồn gây ô nhiễm không giống nhau, vì vậy việc nghiên cứu cụ thể, chi tiết để có thể đánh giá toàn diện về tiềm năng, thực trạng cũng như xu hướng của các làng nghề có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và thực tiễn. n 8 Nghiên cứu về các giải pháp: Hiện tại, đối với mỗi công trình nghiên cứu về vấn đề môi trường làng nghề ít nhiều đều có đề cập đến các giải pháp khác nhau nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững. Tổng quát nhất có lẽ phải đề cập đến cuốn “Làng nghề Việt Nam và môi trường” của Đặng Kim Chi và các cộng sự. Dựa trên cơ sở đã nghiên cứu tổng quan về đặc điểm cũng như thực trạng sản xuất, hiện trạng môi trường các làng nghề, tác giả đã đi đến các giải pháp chung nhất cho từng loại hình làng nghề.
Ở đây cũng đề cập đến việc định hướng xây dựng một số chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền vững (như các chính sách về hỗ trợ tài chính, chính sách về thị trường, về cơ sở hạ tầng, giáo dục môi trường…). Qua đó đề xuất các giải pháp, nhìn chung tập trung vào hai nhóm chính là giải pháp kỹ thuật và giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho các làng nghề. Các giải pháp này được đề cập cụ thể hơn trong “Đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam” (KC.09, 2005), cụ thể là các “Tài liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường” cho các làng nghề nhựa; chế biến nông sản, thực phẩm; thủ công mỹ nghệ; dệt nhuộm. Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hương, Trần Minh Yến, Đặng Vân Trình… đã nêu trên đều có đề cập đến các giải pháp can thiệp.
Theo kết quả khảo sát của các tác giả tại 3 làng nghề điển hình thì tỷ lệ những ý kiến trông chờ sự giải quyết ô nhiễm vào Nhà nước chiếm tới 56,6%; giải pháp nâng cao nhận thức môi trường chiếm 14,8%; thông cảm và cùng người sản xuất xử lý ô nhiễm chỉ có 8,5%, đặc biệt ý kiến nếu không xử lý ô nhiễm thì ngừng sản xuất chỉ có 1,1%. Qua đó cho thấy rằng ý thức của cộng đồng trong vấn đề phát triển kinh tế gắn với môi trường còn nhiều hạn chế, vấn đề xung đột môi trường có nguy cơ khá cao và phức tạp.