Chương I: Cơ sở lý luận và tổng quan về nghiên cứu đánh giá tài nguyên vị thế Chương II: Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội huyện đảo Cô Tô. Chương III: Đánh giá tài nguyên vị thế và một số đề xuất sử dụng hiệu quả tài nguyên vị thế huyện đảo Cô Tô. 3 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN VỊ THẾ 1. Khái niệm cơ bản về tài nguyên vị thế 1.
Tài nguyên thiên nhiên truyền thống Tài nguyên là con người, tài sản, nguyên vật liệu, nguồn vốn có thể sử dụng để đạt được một mục đích. Tài nguyên thiên nhiên là tài nguyên xuất hiện trong tự nhiên có thể sử dụng để tạo ra lợi ích. Tài nguyên thiên nhiên là một đặc tính hoặc một hợp phần của môi trường tự nhiên có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người như đất, nước, động vật, thực vật, v. Tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế và giá trị phi kinh tế [52, 54].
Tài nguyên biển bao gồm các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật như đất, nước, băng nằm trong hoặc nằm dưới một vùng biển và cả động vật hoang dã sống trong một vùng thường xuyên, tạm thời hoặc theo mùa vụ. Tài nguyên biển là một phạm trù rộng để chỉ các tài nguyên động vật và thực vật biển, nước và dòng chảy, đáy biển và bờ biển có chủ thể. Chúng còn bao gồm các tài nguyên văn hóa có chủ thể, từ xác tàu đắm, đèn biển cho đến các di chỉ khảo cổ, lịch sử văn hóa của cộng đồng bản địa. Chủ thể được xác lập để bảo vệ các vùng có một hoặc nhiều đặc thù tự nhiên và văn hóa.
Tài nguyên biển thường gắn liền với quyền tài phán quốc gia [48]. Tài nguyên vị thế Ngày nay, tài nguyên thiên nhiên không còn hiểu theo cách tư duy truyền thống (chỉ là những dạng vật chất lấy ra được và có giá trị sử dụng cho mục tiêu kinh tế nào đó), mà đã được hiểu là tất cả các yếu tố tự nhiên có thể sử dụng ở các h́nh thức khác nhau, hoặc không sử dụng nhưng sự tồn tại của nó tự mạng lại lợi ích cho con người [12]. Như vậy, có thể dễ dàng thấy rằng cảnh quan tự nhiên đẹp là một dạng tài nguyên quí giá, không có khả năng tái tạo nếu bị hủy hoại, nhưng có thể dùng mãi mãi nếu cách khai thác giá trị kinh tế của nó hợp lý. Trong khi đó, 4 z khoáng sản là tài nguyên không tái tạo, tài nguyên sinh vật có thể tái tạo và năng lượng nhiệt, gió, thủy triều có thể coi là vô tận.
Theo cách hiểu truyền thống, nhiều lợi ích lớn, đặc biệt là sự phát triển kết cấu hạ tầng và các khu kinh tế trọng điểm được đưa lại từ các yếu tố, hiện tượng và quá trình tự nhiên có tính tổng hợp theo không gian vùng đất, vùng biển không gắn với tài nguyên truyền thống cụ thể nào, chỉ được coi là lợi thế phát triển. Đó là nguồn gốc dẫn đến thiếu tư duy cơ bản trong tổ chức lãnh thổ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế đã có ở một số quy hoạch phát triển, nền tảng của các quyết sách kinh tế lại chẳng dựa vào những dạng tài nguyên chính yếu đã được ghi nhận, mà lại dựa vào một số yếu tố, được coi là lợi thế tự nhiên, được đánh giá thiếu hệ thống và tuỳ vào nhận thức ngẫu nhiên của người làm quy hoạch. Thực tế, những quyết sách kinh tế quan trọng nhất của một vùng chính là dựa vào tài nguyên không gian (vị thế), nhưng lại không được ghi nhận một cách chính thức.
Tình trạng này không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước đang phát triển và dần được nhận thức rõ cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của kinh tế, quản lý và khoa học công nghệ. Trên thực tế, việc vận dụng cơ sở tài nguyên vị thế ngày càng mở rộng và có định hướng rõ ràng, nhưng cơ sở lý luận của vấn đề tài nguyên không gian hoặc vị thế chưa được định hình, còn nhiều bàn luận. Theo Cộng đồng Châu Âu, tài nguyên thiên nhiên được chia thành 5 dạng [50]: Tài nguyên tái tạo không tiêu hao (Renewable resources - non-extinguishable); Tài nguyên tái tạo có tiêu hao (Renewable resources -extinguishable); Tài nguyên không tái tạo và không tiêu hao (Non-renewable resources- non-extinguishable); Tài nguyên không tái tạo, tiêu hao (Non-renewable resources -extinguishable); Tài nguyên vị thế (không gian - space) bao gồm đất, mặt biển và khoảng không. Tài nguyên vị thế (không gian) hàm chứa cả bốn loại tài nguyên kia như năng lượng mặt trời, gió, tài nguyên nông, ngư và rừng (kể cả tiềm năng bảo tồn đa dạng sinh học v.
Nó có quan hệ với mọi hoạt động của con người liên quan đến sử dụng tài nguyên, ví dụ làm nhà, xây dựng cơ sở hạ tầng và giao thông. Do vậy, vị thế được coi là dạng tài nguyên then chốt. Tài 5 z nguyên ven bờ Singapore ðýợc chia thành ba nhóm: ðất ven bờ và không gian biển, tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo [55]. Theo nguồn gốc thì tài nguyên thiên nhiên gồm có ba nhóm chủ cõ bản: tài nguyên sinh vật; tài nguyên phi sinh vật và tài nguyên vị thế (không gian).
Ở Việt Nam, khái niệm vị thế được nhắc nhiều trong các văn liệu kinh tế và xã hội gần đây, mà chủ thể là một địa phương hay một quốc gia. Một định nghĩa rõ ràng và thống nhất về thuật ngữ “tài nguyên vị thế” là chưa có và còn được hiểu khác nhau. Các tác giả trường Đại học Mỏ-Địa chất cho rằng tài nguyên vị thế (TNVT) bao gồm những vị trí địa lý và các thuộc tính không gian liên quan đến cấu trúc, hình thể sơn văn và cảnh quan sinh thái có tiềm năng và giá trị có thể sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia [7]. Các tác giả này dẫn ra một số kiểu TNVT như sông, hồ, châu thổ, hang động, địa hình karst, địa hình ven biển (bãi, bờ, thềm, đụn cát,…), đảo san hô, địa hình núi cao, núi lửa,…, mà theo chúng tôi cũng có thể gọi là tài nguyên địa mạo.
Một quan niệm tương đối rõ ràng về giá trị vị thế do Nguyễn Chu Hồi đề xuất: “Vị thế là những lợi thế so sánh về phương diện địa lý, khả năng khai thác các giá trị phi vật chất và vật chất của một lãnh thổ nhất định” [12]. Theo nghĩa rộng, “vị thế là tương quan so sánh về vị trí (chỗ đứng) trong xã hội hay trong tự nhiên của một con người, một cộng đồng, một đơn vị hành chính, một quốc gia, một liên minh, hay của một không gian (lãnh thổ) có quy mô khác nhau” [36]. Trong luận văn này, tôi xem xét vị thế trong khuôn khổ “tương quan so sánh về vị trí địa lý (tự nhiên) của một không gian (lãnh thổ) nào đó có thể khai thác thành các lợi ích về môi trường, kinh tế, chính trị, trong đó bao hàm cả những thách thức mà lãnh thổ đó phải đương đầu”. Cơ sở khoa học của tài nguyên vị thế (TNVT) (position resources) cho phát triển kinh tế- xã hội là vấn đề mới mẻ ở nước ta và cũng chưa phổ biến rộng trên thế giới.
Tuy nhiên, đây là hướng rất quan trọng mà việc nhận thức đúng đắn sẽ tạo ra một cách nhìn mới về sử dụng hớp lý tài nguyên, tổ chức không gian và quy 6 z hoạch phát triển bền vững kinh tế- xã hội [56]. Việc sử dụng TNVT ngày càng mở rộng và có định hướng rõ ràng, nhưng cơ sở lý luận đang được định hình và bàn luận. Trong quá trình thực hiện Dự án 14 “Điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái, địa chất vùng biển và các đảo Việt Nam”, TNVT đã được định nghĩa như sau: “TNVT là những lợi ích có được từ vị trí địa lý và các thuộc tính về cấu trúc, hình thể sơn văn và cảnh quan, sinh thái của một khu vực, có giá trị sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia” [5]. Nói một cách khác, có thể hiểu TNVT là những nguồn lợi hoặc giá trị mà một lãnh thổ có thể khai thác được để phục vụ xã hội nhờ lợi thế về vị trí địa lý của mình, bao gồm các nguồn lợi và giá trị về môi trường tự nhiên, về kinh tế, về đất đai, về văn hóa, chính trị, quân sự, về chủ quyền và uy tín quốc tế.
Như vậy không gian (lãnh thổ) chính là chủ sở hữu của TNVT, và do đó giá trị của những tài nguyên vốn có của lãnh thổ đó (như khoáng sản, cảnh quan, các hệ sinh thái,.) có thể được tăng lên gấp bội nhờ lợi thế về vị trí địa lý, và sự gia tăng giá trị đó cũng thuộc về TNVT. Trong hệ thống tài nguyên biển, TNVT biển đóng vai trò then chốt, mà chủ thể chính là không gian biển và đới bờ, là mặt nước và đáy biển, luồng lạch, vũng vịnh, bến bãi, đất đai ven biển, bán đảo và hải đảo, bãi cát biển, thềm đá, vách đá, hang động, v. Một vịnh nước sâu, kín nghèo tài nguyên truyền thống, nhưng do ở một vị trí địa lý quan trọng có giá trị sử dụng thành một cảng nước sâu mang lại những lợi ích kinh tế to lớn. TNVT biển không chỉ có nguồn gốc tự nhiên, mà còn liên quan với các di tích lịch sử, khảo cổ, văn hóa, cấu trúc cộng đồng, v.
TNVT biển còn có quan hệ với các yếu tố sinh vật và phi sinh vật, tái tạo và không tái tạo, hợp thành hình thể và vị trí trong không gian của chủ thể. Tài nguyên vị thế dùng theo cách nói tiếng Việt trong nhiều văn bản quản lý hiện nay có lẽ mang hàm ý rộng hơn tài nguyên không gian (space) trong các tài liệu nước ngoài, bao hàm cả giá trị đưa lại của không gian trong mối quan hệ về vị trí địa lý của nó với các trung tâm, đầu mối kinh tế, chính trị khu vực, quan hệ với các vành đai, hành lang kinh tế trên biển, ven biển v. Tài nguyên vị thế biển có 7 z những nội hàm riêng, mang tính bản chất, là các yếu tố hình thể và vị trí trong không gian. Sử dụng hợp lý TNVT biển là một định hướng cơ bản cho phát triển bền vững [8].
Tài nguyên biển Việt Nam bao gồm tài nguyên sinh vật, phi sinh vật và cả TNVT.