CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRE NỨA Ở TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Thành phần và phân bố tre nứa trên thế giới Tre nứa thuộc phân họ Tre – Bambusoideae, họ Hoà thảo - Poaceae. Trên thế giới phân họ Tre có khoảng 1200 loài, 70 chi, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Một số ít loài tre nứa phân bố ở vùng ôn đới.
Tre nứa mọc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thường mọc thành rừng thuần loại hay hỗn giao với cây gỗ. Tổng diện tích rừng tre nứa cả thuần loại và hỗn giao trên thế giới ước tính khoảng 20 triệu ha. Trung Quốc và Ấn Độ là 2 nước có thành phần tre phong phú và diện tích rừng tre lớn nhất thế giới (bảng 1. Diện tích và số lượng các chi, loài tre nứa của một số nước Tên các Châu hay Diện tích Số loài (gồm cả STT Số chi Quốc gia (1 triệu ha) thứ và dạng) Trung Quốc 7,000 (trong đó rừng 1 50 500 hỗn giao là 3000) 2 Ấn Độ 4,000 19 136 3 Miến Điện 2,170 - 90 4 Thái lan 0,810 13 60 5 Băng la đét 0,600 13 30 6 Campuchia 1,287 - - 7 Việt Nam 1,41 16 92 8 Nhật Bản 0,138 13 230 (660) 9 Inđônêxia 0,060 9 30 10 Malaysia 0,020 10 50 3 Tên các Châu hay Diện tích Số loài (gồm cả STT Số chi Quốc gia (1 triệu ha) thứ và dạng) 11 Philipin 0,020 1 (?) 55 12 Hàn Quốc 0,008 10 13 13 Srilanca 0,002 7 14 Châu Đại Dương và 14 các đảo của Thái Bình 0,200* 6 10 Dương Châu Mỹ (Cả Nam 15 1,500* 17 270 Mỹ và Bắc Mỹ) Châu Phi (Gồm cả 16 1,500* 14 50 Madagascar) Nguồn: Zhou Fangchun, 2000 Chú thích: * Ước tính Trung Quốc là một trung tâm tre nứa quan trọng của thế giới.
Rừng tre nứa của Trung Quốc (gồm cả rừng trồng và rừng tự nhiên) có diện tích 7 triệu ha, trong đó riêng Trúc sào (Phyllostachys pubescens) chiếm trên 1 triệu ha [40]. Camus, đã thống kê được toàn Đông Dương có 13 chi, 72 loài, còn Việt Nam có 12 chi, 54 loài tre nứa (bảng 1. Số chi và loài tre nứa ở Đông Dương và Việt Nam năm 1923 Đông Số loài ở Số loài ở Tên chi Việt Nam Dương Đông Dương Việt Nam Arundinaria + + 5 4 Bambusa + + 22 17 4 Đông Số loài ở Số loài ở Tên chi Việt Nam Dương Đông Dương Việt Nam Cephalostachyum + + 2 2 Dendrocalamus + + 12 8 Gigantochloa + + 4 4 Melocalamus + + 1 1 Neohouzeaua + + 2 1 Oxytenanthera + + 11 9 Phyllostachys + + 5 2 Sasa + + 1 1 Schizostachyum + + 5 4 Teinostachyum + 0 1 0 Thyrsostachys + + 1 1 Tổng số 13 12 72 54 Nguồn: E. Camus, 1923 Theo thống kê của Cục kiểm lâm (2007) tổng diện tích rừng tre của Việt Nam là 1.100ha rừng tre nứa tự nhiên (bao gồm 664.860ha rừng tre thuần loại và 688.240ha rừng tre nứa hỗn giao) (Bảng 1.
Diện tích rừng tre nứa ở Việt Nam Diện tích Loại rừng (ha) I. Rừng tự nhiên 1. Rừng tre nứa 664. Rừng hỗn giao (gỗ + tre nứa) 688.
Rừng trồng tre 85.664 Nguồn: Cục kiểm lâm, 2007 5 Ngoài rừng tre mọc tự nhiên tập trung, còn hàng triệu cây tre được trồng tập trung như Luồng (Thanh Hoá, Nghệ An) hoặc rải rác trong các gia đình ở vùng đồng bằng, trung du và miền núi cũng tạo một trữ lượng tre nứa đáng kể. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Một số tác giả như: Ohrnberyer D. đã thu thập được mẫu vật, mô tả được nhiều loài, chi trong phân họ Bambusoideae, mô tả đặc điểm họ Poaceae, cấu trúc thân ngầm, thân khí sinh, lá quang hợp, mo nang một số chi, loài trong phân họ này. Năm 1994, tổ chức PROSEA (Plant Resources of South - East Asia) đã đưa ra đặc điểm sinh thái học, phân bố, gây trồng, khai thác và sử dụng các loài tre nứa trong khu vực và một số loài của Việt Nam.
Tuy nhiên, công trình trên chưa nghiên cứu hết các loài có trong khu vực, trong đó có Việt Nam [37]. Ramanatha đã đưa ra một số kết quả về nghiên cứu có liên quan tới đặc điểm sinh thái, như bảng tổng hợp về chỉ tiêu của một số nhân tố sinh thái: loại đất, hàm lượng mùn trong đất, lượng mưa, số ngày mưa trong năm của 19 loài tre nứa của Trung Quốc [38]. Năm 2000, tác giả Zhu Zhaohua cho biết: ở tỉnh đảo Hải Nam rất gần với Việt Nam đã phát hiện được 46 loài tre nứa, trong đó có 38 loài phân bố tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa; tại tỉnh 6 Vân Nam có 250 loài đã được phát hiện, diện tích tre nứa đạt tới 331000 ha, riêng loài Phyllostachys heterocycta var. pubescens chiếm 80% diện tích kể trên [41].
Tewari (2001) cho rằng Ấn Độ là nước có diện tích tre nứa lớn nhất thế giới, khoảng 2 triệu ha, phân bố từ sát biển lên tới độ cao 3700m sát chân núi Hymalaya. Có 50% số loài tập trung phân bố ở phía Tây Ấn Độ, đa số các loài có thân mọc cụm như Bambusa, Dendrocalamus, Gigantochloa, Oxytenanthera. Tác giả cũng đưa ra dẫn liệu về độ cao phân bố của một số loài cụ thể [39]. Từ đó có thể thấy các loài Tre nứa đang được nhiều nước trên thế giới ngày một quan tâm nhiều hơn và bổ sung vào danh lục các loài Tre nứa.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Do tre nứa có giá trị về nhiều mặt đối với đời sống con người nên từ lâu chúng đã được nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Một trong những nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu về tre nứa là Phạm Văn Tích. Năm 1965, tác giả đã tổng kết kinh nghiệm trồng Luồng Thanh Hoá [27]. Năm 1971 Lê Nguyên và các cộng sự đưa ra các đặc điểm cơ bản của một số loài tre nứa, cách gây trồng và phương thức khai thác chúng [23].
Năm 1978, Vũ Văn Dũng đã công bố 47 loài tre nứa khác nhau ở miền Bắc và nêu công dụng, mùa ra măng, vùng phân bố của các loài này [7]. Năm 1990, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê 19 chi, 95 loài tre nứa và năm 1999, tác giả đã bổ sung số chi và loài tre nứa của Việt Nam là 24 chi và 121 loài [17]. Năm 1994, Ngô Quang Đê đã giới thiệu tóm tắt về đặc tính sinh vật học, đặc điểm sinh trưởng, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng tre nứa nói chung. Ngoài ra, còn giới thiệu kỹ thuật trồng một số loài tre nứa cụ thể đang được phát triển [10].
7 Trần Ngọc Hải (1999), đã theo dõi biến đổi hình thái của Vầu đắng và nghiên cứu quy luật phân bố của Vầu trồng bằng hom thân ngầm. Từ đó có thể xác định được tuổi cây thông qua hình thái bên ngoài và xác định được mật độ trồng hợp lý cũng như thời gian khép tán của lâm phần Vầu đắng sau khi trồng [11]. Trần Ngọc Hải (2000) đã phân tích giá trị dinh dưỡng của măng Vầu đắng và so sánh hàm lượng một số chất (protein, lipit, xenluloza) trong măng của một số loài khác như: Bương, Luồng so với măng Vầu đắng [13]. Năm 2001, Trần Ngọc Hải đã giới thiệu 18 loài tre lấy măng chủ yếu ở Việt Nam [14].
Năm 2001, Nguyễn Ngọc Bích đã đưa ra kết quả nghiên cứu về đất trồng Luồng như tính chất vật lý của đất, động thái độ ẩm đất và ảnh hưởng của các phương thức trồng Luồng đến đất [46]. Năm 2001, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã đưa ra 9 loài tre nứa quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay: Luồng Thanh Hoá, Trúc sào, Vầu, Lồ ô, Tre gai, Mạnh tông, Tầm vông, Mai, Diễn. Đồng thời tác giả cũng đưa ra 3 loài tre nứa quý hiếm đang có nguy cơ bị tiêu diệt là: Trúc vuông (Chimonobambusa quadrangularis (Fenzi) Makino), Trúc đen (Phyllostachys nigra (Lodd.) Munro), Trúc hoá long (P. Ngoài ra tác giả cũng đã nêu ra khu vực Đèo Gió, Ngân Sơn, Cao Bằng là vùng phân bố chính của cả hai loài trúc quý hiếm (Trúc hoá long và Trúc vuông).
Tác giả đã đưa ra một số hướng giải pháp để bảo tồn các loài này [45]. Trần Ngọc Hải (2003), đã đưa ra một số nhóm giải pháp để phát triển bền vững LSNG tại một số thôn thuộc vùng đệm VQG Ba Vì - Hà Tây sau khi đã phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát triển tre Bương. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở vấn đề nghiên cứu thành 8 phần loài, phân bố, kỹ thuật gây trồng, khai thác các loài tre nứa. Việc đánh giá vai trò của chúng thì hầu như chưa được đề cập đến [15].
Năm 2005, Trần Ngọc Hải đã điều tra được 10 loài tre nứa ở 2 xã Ngổ Luông – Tân Lạc và Đồng Bảng – Mai Châu – Hoà Bình và khẳng định 3 loài Bương, Vầu, Mai là những loài thích hợp nên phát triển gây trồng trên diện rộng, đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường [16]. Năm 2005 Lê Viết Lâm đã đưa ra bảng định loại chi và loài tre nứa ở Việt Nam với 122 loài, 22 chi, kiểm tra và cập nhật 11 tên khoa học mới, đặc biệt đưa ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu đầu được định tên khoa học ở Việt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được xem xét để xác nhận loài mới. Theo tác giả nếu được thu thập mẫu đầy đủ để định loại thì số loài tre của Việt Nam phải trên 200 loài [20]. Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến đã công bố 7 loài nứa mới thuộc chi Nứa (Schizostachyum) như: Khốp Cà Ná (Cà Ná, Ninh Thuận), Nứa Núi Dinh (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nứa đèo Lò Xo (Đắc Glei, Kon Tum), Nứa lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa có tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc (Bảo Lộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh).
Các tác giả đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, sinh thái của từng loài cụ thể [44]. Năm 2006, Trần Văn Mão, Trần Ngọc Hải cùng một số tác giả khác đã dịch cuốn “Hỏi đáp về kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến tre”. Cuốn sách có tổng số 265 câu hỏi liên quan đến tre nứa như: trồng, sử dụng, bảo quản,… tre nứa, giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quan về vai trò, cách sử dụng tre nứa có hiệu quả [21].