Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình phát triển thủy điện tại nước CHDCND Lào 1. Tiềm năng phát triển thủy điện CHDCND Lào là một quốc gia không giáp biển ở Đông Nam Á, có biên giới với Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Myanmar. Dân số khoảng 6.5 triệu người và tổng diện tích 236,800 km2, Lào có mật độ dân số thấp nhất ở châu Á.
Phần lớn người dân Lào sống ở khu vực nông thôn và sinh kế của họ phụ thuộc trực tiếp vào tài nguyên thiên nhiên như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp… Lào được đánh giá là một trong những quốc gia nghèo nhất ở Đông Nam Á do sự phát triển kinh tế và con người thấp (Rigg 2007). Khoảng 70% dân số của Lào sống với ít hơn 2 USD/ngày (UNDP 2007). Mặc dù mức độ nghèo đói ở Lào đã giảm nhiều kể từ khi bắt đầu cải cách kinh tế vào năm 1986, nhưng vẫn tồn tại ở các khu vực ngoại vi (Andriesse & Phommalath 2012). Để cải thiện đời sống của người dân và phát triển đất nước, Chính phủ Lào nhờ cậy sự phong phú của tài nguyên trong nước như tài nguyên rừng, khoáng sản, đất ngập nước và đa dạng sinh học.
Đặc biệt, việc phát triển tài nguyên nước để sản xuất và xuất khẩu thủy điện là một động lực quan trọng để đạt được Chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế (Jusi 2010). Thủy điện Lào có thể chia nhóm thành hai loại: các dự án thủy điện để sản xuất năng lượng cho thị trường nội địa và xuất khẩu (Virtanen 2006). Các dự án thủy điện để sản xuất năng lượng cho thị trường nội địa thuộc sở hữu của Công ty Điện Quốc gia Lào (Electricite du Laos “EDL”) và có công suất phát điện lên tới 100 MW. Các dự án thủy điện để xuất khẩu chủ yếu được thực hiện bởi IPP, bao gồm các nhà đầu tư tư nhân, các công ty và tổ chức nước ngoài.
Các dự án thủy điện để xuất khẩu sẽ có quy mô lớn và công suất phát điện hơn 100 MW (Pholsena & Phonekeo 2004). CHDCND Lào là một quốc gia có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển các công trình thủy điện vì sự phong phú của tài nguyên nước và địa hình phù hợp cho việc phát triển các công trình thủy điện nằm ở trung tâm lưu vực sông Mê Công. Sông Mê Công là con sông dài thứ 12 và lớn thứ 8 trên thế giới (Snidvongs et al. Bắt nguồn từ dãy núi Himalaya ở Tây Tạng.
Có chiều dài khoảng 4,300 km và có lưu lượng trung bình 15,000 m3/giây. Sông Mê Công chảy qua Lào 1,900 km từ bắc đến 5 z nam với 919 km là biên giới giữa Lào và Thái Lan (Barney 2012; Bộ kế hoạch và đầu tư 2012). Hầu như tất cả của hệ thống sông phong phú và có tiềm năng để xây dựng đập thủy điện ở Lào đều là nhánh của sông Mê Công. Lào có tiềm năng sản xuất thủy điện khoảng 30,653 MW.
Hiện tại, Lào đã xây dựng 17 nhà máy thủy điện quy mô lớn có thể sản xuất điện lên tới 3,300 MW vàcòn có 40-50 dự án thủy điện đang được xây dựng (Boer et al. Ngoài ra, Lào là quốc gia đầu tiên đã bắt đầu xây dựng đập thủy điển trên hạ nguồn dòng chính sông Mê Công. Xayaburi là đập thủy điển đầu tiên trong tổng số 12 sẽ được xây dựng trên hạ nguồn dòng chính của sông Mê Công. Trong khi Lào đang cố gắng biến đất nước trở thành "nguồn năng lượng của châu Á", ngành năng lượng của lào cũng đang được quan tâm từ các nhà đầu tư nước ngòai.
Do nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng của các nước láng giềng như: Thái Lan, Việt Nam và Campuchia đã kích thích sự tăng trưởng của ngành năng lượng của Lào, Chính phủ Lào đã ký kết hợp tác trong việc sản xuất điện để xuất khẩu cho Thái Lan 7,000 MW, Việt Nam 5,000 MW và Campuchia 1,500 MW (Phomsoupha 2009; Porter & Shivakumar 2011; Watcharejyothin & Shrestha 2009). Lợi ích kinh tế của việc phát triển thủy điện Thủy điện là một nguồn năng lượng rẻ, có thể tái tạo và sạch hơn các nguồn năng lượng khác như nhiên liệu hóa thạch hay năng lượng nguyên tử. Năm 2011, thủy điện đóng góp 19% tổng lượng cung cấp điện toàn cầu (IEA 2013). Lào là một trong số ít các quốc gia ở Đông Nam Á có thu nhập thấp, nguồn nhân lực thấp và thiếu đa dạng hóa về các ngành kinh tế.
Dân cư tại Lào sống hầu hết ở các vùng nông thôn và hai phần ba sống với thu nhập ít hơn 2 USD/ngày (UNDP 2007). Năm 2003, Chính phủ Lào thông qua Chiến lược xóa nghèo và phát triển quốc gia nhằm loại bỏ sự nghèo đói bằng cách phát triển kinh tế theo hướng phù hợp và cân bằng (CHDCND Lào 2003). Với các điều kiện thuận lợi về thủy văn, địa hình phù hợp cho việc xây dựng đập thủy điện và khả năng thương mại hóa điện với các đối tác là Trung Quốc và Thái Lan; thủy điện được xem như một ý tưởng đưa đến con đường phát triển kinh tế nhanh chóng cho Lào (Pholsena& Phonekeo 2004; Phomsoupha 2009). Từ đó, thủy điện 6 z được khuyến khích khai thác với ý nghĩa giúp Chính phủ Lào có thể xóa nghèo với doanh thu tăng đáng kể giúp sử dụng cho các mục tiêu xã hội.
Có xấp xỉ 100 vị trí khai thác thủy điện có tiềm năng kinh tế ở Lào dọc theo sông Mê Công và phụ lưu của sông Mê Công, tổng sản lượng điện tạo ra là 26,000 MWt (Phomsoupha 2009; Sadettanh 2004; Susanto & Stamp 2012). Tính đến năm 2015, có 17 dự án thủy điện với tổng công suất khoảng 3,000 MWt được khai thác ở hạ lưu (Bộ năng lượng và mỏ 2016). Hơn 60 dự án thủy điện đã được quy hoạch hoặc đang trong quá trình xây dựng, gồm 9 dự án trên dòng chính sông Mê Công (Grumbine & Xu 2011). Thủy điện là nguồn cung cấp điện chính trong nước và là nguồn cung có thể mở rộng hơn.
Có 99% tổng lượng điện lắp đặt là thủy điện, còn lại là từ diesel (pholsena & phonekeo 2004). Từ năm 1970, dự án thủy điện lớn tầm cỡ quốc gia là Nam Ngum 1, đã sản xuất điện và bán cho Thái Lan; trong 25 năm đầu tiên kể từ khi vận hành dự án này, Chính phủ Lào đã nhận được hơn 2 tỷ USD từ thuế và phí bản quyền. Kể từ đó, nhiều đập thủy điện cỡ lớn được xây dựng với mục đích xuất khẩu điện cho các nước láng giềng của Lào. Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008, Chính phủ Lào nhận được tổng cộng 190 triệu USD từ các dự án thủy điện (MacGeorge et al.
Số tiền này tương đương khoảng 3% GDP của Lào (5. Từ đó, việc sản xuất và xuất khẩu thủy điện gắn liền chặt chẽ với sự phát triển kinh tế của Lào (Jusi 2010; Pholsena & Phonekeo 2004; Phomsoupha 2009; Smits & Bush 2010), doanh thu mà Chính phủ Lào nhận được từ việc xuất khẩu năng lượng đã tăng từ 17 triệu đô la năm 2009 lên 100 triệu đô la vào năm 2012 và GDP của Lào đã tăng từ 5.8 tỷ đô la năm 2009 lên 9.1 tỷ đô la vào năm 2012, với xuất khẩu thủy điện là nguồn thu nhập lớn đứng thứ 3 (MacGeorge et al. Nguồn thu từ thủy điện có thể được sử dụng cho các hoạt động phát triển xã hội của đất nước như là cải thiện giáo dục và dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Các dự án thủy điện cũng tạo ra cơ hội việc làm cho người lao động địa phương trong suốt quá trình xây dựng và vận hành.
Khi các dự án thủy điện này được xây dựng sẽ kéo theo sự phát triển chung, nguồn thu nhập tăng lên giúp các thế hệ người dân phát triển, sự đầu tư của nước ngoài cũng tăng lên (CHDCND Lào 2006). 7 z Các công trình thủy điện thông thường có hiệu quả cao và tuổi thọ lên đến 100 năm hoặc nhiều hơn, các chi phí vận hành và bảo dưỡng hàng năm là rất thấp so với các nhà máy sản xuất điện không phải thủy điện. Vì vậy, xét trên góc độ lâu dài, thủy điện có chi phí rẻ, từ đó thúc đẩy khả năng phát triển kinh tế của đất nước. Các ngành chính phát triển kinh tế Lào bao gồm: khai thác khoáng sản; chế biến nông nghiệp, xây dựng, hàng may mặc, xi măng, du lịch… tất cả đều phải sử dụng đến điện.
Tác động tiêu cực của việc phát triển thủy điện Trong khi việc xây dựng các đập thủy điện lớn đang được cân nhắc trọng điểm để phát triển kinh tế đất nước; các chuyên gia độc lập, các nhà nghiên cứu và các tổ chức phi chính phủ lo lắng về mối quan ngại của tác động xã hội và môi trường của việc xây đập thủy điện đến người dân địa phương. Bao gồm các tác động đến hệ sinh thái sông và nguồn sinh kế của hàng triệu người dân địa phương. Có thể chia dân địa phương chịu ảnh hưởng bởi dự án thủy điện thành 2 nhóm: nhóm thứ nhất gồm những người phải di chuyển nơi sống, cơ sở hạ tầng của họ hoặc nguồn sinh kế của họ; nhóm thứ hai gồm những hộ dân sống ở phía hạ nguồn của đập thủy điện. Họ có thể vẫn còn nhà những sinh kế đã bị tác động, thay đổi môi trường và xã hội (Amphone Sivongxay 2015).
Tác động tiêu cực về xã hội Trên thực tế, việc sử dụng nước tích trữ trong các đập thủy điện tương đối phức tạp, ảnh hưởng đến nhu cầu tưới tiêu. Những thời điểm hạn hán có thể gây ra các vấn đề rắc rối do mức bổ sung nước không thể tăng kịp với mức yêu cầu sử dụng. Nếu yêu cầu về mức nước bổ sung tối thiểu không đủ, có thể gây ra giảm hiệu suất của nhà máy. Việc xây dựng thủy điện, đặc biệt là những thủy điện lớn thường phải di dời một số lượng lớn những người dân sống trong khu vực thuộc lòng hồ thủy điện.
Việc tái định cư cho những cộng đồng này đã và đang gây ra nhiều hệ lụy không tốt đối với sinh kế, việc làm và đời sống sinh hoạt của người dân tái định cư. Tái định cư là một trong những vấn đề phức tạp và có ảnh hưởng lâu dài tới những hộ dân thuộc diện di dời, nhường đất cho việc xây dựng các thủy điện. 8 z Sinh kế của người dân sau khi tái định cư gặp nhiều khó khăn liên quan đến vấn đề như chưa có đất sản xuất, đất sản xuất được giao nhưng không thể canh tác được.