Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm Nghèo thường được định nghĩa như một mức thu nhập hay chi tiêu không mang lại cuộc sống đủ cho một người hay một gia đình để họ có thể tham gia xây đầy đủ vào cuộc sống cộng đồng. Nhưng cho đến nay, không có một định nghĩa duy nhất về nghèo. Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Mỹ, Galbraith thì “Người được cho là nghèo khi mà thu nhập của họ rơi xuống dưới mức thu nhập bình quân của cộng đồng, ngay cả khi mức thu nhập đó được cho là thích đáng để tồn tại.
Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số cộng đồng xem là cái tối thiểu để có một cuộc sống đúng mức”. Trong khi đó, khái niệm nghèo được đưa ra tại hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội được tổ chức tại Đan Mạch vào năm 1995 cho rằng: “Nghèo là những người có thu nhập bình quân dưới một đô là một ngày cho một người”. Khái niệm này cụ thể hơn và dễ xác định tuy nhiên, có thể phù hợp với một số quốc gia nhưng một số khác thì không. Theo Ngân hàng thế giới, “Nghèo là tình trạng thiếu thốn nhiều phương diện, thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tại thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những hoàn cảnh bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu đến những người có khả năng giải quyêt, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị xỉ nhục…” (Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004).
Mặc dù nghèo được thể hiện ở nhiều khía cạnh như vậy và không có một khái niệm duy nhất về nghèo nhưng chung quy, nghèo thường thể hiện trên ba khía cạnh chính: có thu nhập thấp hơn mức thu nhập bình quân của dân cư, có mức sống không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu để tồn tại và không có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của xã hội Luan van 5 Vì vậy khái niệm nghèo trong luận văn này được hiểu là: tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Chuẩn nghèo của Việt nam giai đoạn 2016-2020 Xây dựng chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hộicơ bản; xâydựng mức sống tối thiểu để từng bước đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân, trước mắt áp dụng chuẩn nghèo chính sách để phân loại đối tượng hộ nghèo, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, cụ thể như sau: Hội nghị thượng đỉnh về chống nghèo đói của Uỷ ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cho rằng: “nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (1995) cho rằng “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Abapia Sen (1998) cho rằng “nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”.
Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, khác biệt cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn. Tại Việt Nam, giai đoạn 2011 - 2015 Chính phủ đã có Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg (Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015), qua đó quy định như sau: - Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Luan van 6 - Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng.
- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng. Chính phủ đã có Quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020), qua đó quy định như sau: * Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng - Các tiêu chí về thu nhập + Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. + Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. - Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản + Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch thông tinvà vệ sinh; + Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
* Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng - Hộ nghèo + Khu vực nông thôn, là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 Luan van 7 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Khu vực thành thị, là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ cận nghèo + Khu vực nông thôn, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. + Khu vực thành thị, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Hộ có mức sống trung bình + Khu vực nông thôn, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. + Khu vực thành thị, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.2 Sử dụng các nguồn vốn, quỹ để giảm nghèo Vốn là đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất, chính vì vậy thiếu vốn là một trong những nguyên nhân rơi vào nghèo, làm cho thu nhập và chi tiêu của người nghèo bị hạn chế. Có nhiều vốn sản xuất và dàng tiếp cận được các nguồn vốn sẽ tạo cơ hội nâng cao mức sống cho người nghèo. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận chương trình cho vay tín dụng là điều kiện quan trọng để người nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, trang trải chi phí học hành cho con cái… Nhờ đó, nâng cao thu nhập và có cơ hội thoát nghèo bền vững.
Ngân hàng thế giới (1995) đã khuyến cáo rằng cải thiện thị trường tín dụng là một chính sách quan trọng để giảm nghèo ở Việt Luan van 8 Nam. Tuy nhiên, cho đến nay chương trình cho vay tín dụng ở nông thôn Việt Nam vẫn rất kém phát triển 1. Cơ sở thực tiễn Giới thiệu về Chương trình cho vay hộ nghèo của Chương trình cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách xã hội Cho vay hộ nghèo theo Nghị định 78 của Chính phủ: - Đối tượng được vay là hộ nghèo (có tên trong danh sách hộ nghèo của huyện) - Lãi suất: 0,55%/ tháng, - Mức vay tối đa là 50 triệu đồng, - Sử dụng vốn vào việc: Chăn nuôi, trồng cây, buôn bán. - Thời gian vay tối đa là 5 năm (thời gian cho vay tùy vào việc sử dụng vốn vay).
Cho vay hộ nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính Phủ. - Đối tượng được vay là hộ nghèo (có tên trong danh sách hộ nghèo của huyện) - Lãi suất: 0,275%/ tháng, - Mức vay tối đa là 10 triệu đồng, - Sử dụng vốn vào việc: Chăn nuôi, trồng cây, buôn bán. - Thời gian vay tối đa là 3 năm (thời gian cho vay tùy vào việc sử dụng vốn vay). Cho vay theo Quyết định 755 của chính phủ: - Đối tượng vay là hộ nghèo (có tên trong danh sách hộ nghèo của huyện) - Lãi suất: 0,1%/ tháng, - Mức vay tối đa là 15 triệu đồng, - Sử dụng vốn vào việc chi phí khai hoang đất sản xuất(để trồng chuối), chuyển đối nghề, chi phí đi xuất khẩu lao động.
- Thời gian vay tối đa là 5 năm. Cho vay theo Quyết định 54 của Chính Phủ: - Đối tượng vay là: hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn (có tên trong danh sách hộ nghèo của huyện) Luan van 9 - Lãi suất: 0,1%/ tháng, - Mức vay tối đa là 8 triệu đồng, - Sử dụng vốn vào việc: Trồng trọt, chăn nuôi. - Thời gian vay tối đa là 5 năm. Cho vay giải quyết việc làm theo Quyết định 120.
- Đối tượng vay là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ SXKD nhằm giải quyết công ăn việc làm. - Lãi suất: 0,55%/ tháng, - Mức vay tối đa là 50 triệu đồng, - Sử dụng vốn vào việc: Trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán, kinh doanh. - Thời gian vay tối đa là 5 năm. Cho vay theo Quyết định 71 của Chính phủ (chỉ áp dụng cho huyện nghèo) - Đối tượng vay là hộ nghèo, hộ nghèo dân tộc thiểu số - Lãi suất: 0,275%/ tháng (hộ nghèo dân tộc thiểu số) - Lãi suất: 0,55%/ tháng (hộ nghèo) - Mức vay tối đa: tùy thuộc vào đi xuất khẩu ở nước nào( Malaysa là 25 trđ.) - Sử dụng vốn vào việc: Chi phí đi xuất khẩu.
- Thời gian vay tối đa là: bằng thời gian hợp đồng đi xuất khẩu.