ĐẶT VẤN ĐỀ Sở (Camellia sp) là cây gỗ nhỏ họ Chè (Theaceae), là loài cây bản địa lá rộng thƣờng xanh. Cây sở vừa có giá trị kinh tế và giá trị phòng hộ cao. Sản phẩm chính của cây sở là lấy hạt ép dầu, một trong các loại dầu ăn từ thực vật có chất lƣợng tốt. Ngoài dầu sở, bã sở (còn gọi là khô dầu) và vỏ quả cũng có nhiều công dụng.
Khô dầu khi ép đƣợc ngâm chiết dầu thô để sản xuất xà phòng hoặc tách bỏ độc tố có thể làm thức ăn giầu đạm cho gia súc. Khô sở còn đƣợc dùng làm thuốc trừ sâu, hay nghiền nhỏ làm phân bón rất tốt. Vỏ quả sở đƣợc thuỷ phân để sản xuất cồn ethylic, axit butyric, methylic, vỏ quả còn chiết xuất đƣợc Tanin (chiếm 9,26% trong vỏ) nhiệt phân để làm than hoạt tính hay nghiền làm nền nuôi cấy men trong sản xuất nấm ăn. Ngoài ra gỗ và cành nhánh của sở làm đồ gia dụng khá bền và củi đun rất tốt (Nguyễn Quang Khải và cộng sự, 2004) [9].
Từ nhu cầu sử dụng dầu ăn từ thực vật ngày càng cao nhƣ hiện nay và vai trò đa tác dụng nên cây sở đã đƣợc quan tâm nghiên cứu và gây trồng nhiều ở các tỉnh trong nƣớc. Cây sở cũng đã đƣợc gây trồng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và đến nay cho thấy cây sinh trƣởng phát triển tốt. Tuy nhiên, việc trồng loài sở nào cho năng suất, chất lƣợng cao thì vẫn chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu. Giai đoạn 2006 -2010, thông qua đề tài cấp Bộ "Nghiên cứu chọn giống và biện pháp kỹ thuật trồng rừng sở thâm canh cho vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ" Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã xây dựng đƣợc mô hình trồng 3 loài sở tại Đại Lải, Vĩnh Phúc là Sở chè, Sở cam và Sở lê.
Để có cơ sở cho việc đề xuất loài sở và các biện pháp kỹ thuật gây trồng phù hợp thì việc đánh giá tình hình sinh trƣởng, phát triển của các loài sở trong mô hình này là rất cần thiết. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng cũng nhƣ hiệu quả rừng trồng các loài sở ở Vĩnh Phúc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1.
Tên gọi và đặc điểm hình thái của cây sở Sở là tên gọi chung của các loài có hàm lƣợng dầu trong nhân tƣơng đối cao thuộc chi Camellia, họ Theaceae (Mã Cẩm Lâm, 2005) [11]. Trong dầu sở, thành phần axit béo không no chiếm tỷ lệ cao, trong đó chủ yếu là axit oleic chiếm 60-80%, đây là loại axit rất có lợi cho sức khỏe của con ngƣời. Do là loài cung cấp dầu ăn thực vật có giá trị cao nên trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về loài cây này. Theo Marjan Kluepfel và Bop Polomski (1998) [43], chi Camellia có khoảng 220 loài và hơn 2300 giống đã đƣợc định danh.
Trên thế giới có khoảng 33 loài trong chi Camellia cung cấp dầu ăn có giá trị. Theo Hakoda (1987) [37] cho rằng C.sasanqua Thunb thực chất là tên gọi khác của Thea sasanqua và cả hai có thể gọi theo tên chung là Camellia sasanqua. Theo Samartin (1992) [45], loài đƣợc gọi là C.sasanqua oil (đƣợc gọi phổ biến trên thế giới) đều là một và có tên chính xác là C. Về hình thái của loài sở đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhƣ: Hakoda, N.
Các tác giả đã chỉ ra rằng: C.sasanqua Thunb là loài cây bụi lớn hoặc cây gỗ nhỏ thƣờng xanh, cao khoảng 12 feet (3,7m); đƣờng kính tán rộng từ 3 - 4m; lá hình elip hoặc oval dài, màu xanh đen, bóng, rộng khoảng từ 3 - 5cm, lá non có lông ở phiến lá, lá già có lông ở gân lá, mép lá hình răng cƣa cùn; hoa màu trắng, đƣờng kính từ 5,1 - 7,5cm [19]. Tƣởng Vạn Phƣơng (1959) [14] mô tả cây sở trồng tại Trung Quốc cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 khoảng 5m, hình dáng giống cây chè lá, nhƣng lá nhỏ hơn và xuất hiện nhiều lông tơ nhỏ; hoa màu đỏ nhạt, đỏ thẫm hoặc màu trắng; quả chứa từ 1 - 4 hạt, vỏ quả mỏng, giữa các hạt có màng ngăn cách, hạt lớn, hình dáng hạt không theo quy luật nhất định, hạt có màu nâu bên trong màu vàng nhạt. Các nghiên cứu của các tác giả Chang Hung Ta & Bruce Bartholomew (1981)[14]; Edward F. Watson (1993) [30] và Hong, Y.
(1988) [39] đã chỉ ra quan hệ gần gũi giữa C.sasanqua với loài C.oleifera dẫn đến những đặc điểm hình thái rất giống nhau giữa chúng, chỉ khác nhau là C. sasanqua có phiến lá nhỏ và mỏng hơn, vòi nhụy ngắn hơn. Bên cạnh đó, hai loài này có phân bố địa lý và phân vùng sinh thái giống nhau. Khi so sánh giữa C.japonica, Endo-M & Iwasa-S (1990) [31] và Tanaka -T (1988) [48] cũng cho thấy chúng có nhiều đặc điểm hình thái rất giống nhau, điểm khác biệt là C.sasanqua có lá nhỏ và mỏng hơn lá của C.
Đặc điểm này dẫn tới nhiều trƣờng hợp nhầm lẫn hai loài cây này trong thực tiễn. Trong các loài sở thì loài C. sasanqua Thunb đƣợc quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng C.sasanqua Thunb là loài thuộc chi Camellia với đặc điểm đặc trƣng nhất là có dầu trong nhân.
Việc mô tả đặc điểm hình thái cây sở cũng đƣợc nghiên cứu khá tỷ mỉ, đây là cơ sở quan trọng để phân biệt sở với các loài cây khác cùng chi với nó. Đặc điểm phân bố, sinh thái Trong cuốn Từ điển những loài cây có dầu, tác giả Paul - H. Mensier (1957) [44] đã công bố nghiên cứu đầu tiên về phân bố của loài sở C. Theo tài liệu này sở là loài nguyên sản ở vùng nhiệt đới (Đông - Nam Á) và vùng Á nhiệt đới (Nhật Bản).
Tác giả Chang Hung Ta (1981) [29] cũng khẳng định chi Camellia phân bố ở các nƣớc nhƣ: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Myanma, Lào, Việt Nam, ấn Độ, Thái Lan, Hàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Quốc, Nepal, Indonesia, Campuchia và Philipin. Theo Tƣởng Vạn Phƣơng (1959) [14], sở thƣờng mọc tự nhiên ở Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, đƣợc trồng nhiều ở vùng rừng núi hoặc trong vƣờn nhà nơi có khí hậu ấm áp. Theo Hakoda thì loài sở Camellia sasanqua có nguồn gốc từ vùng Tây - Nam Nhật Bản. Các nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy, Camellia phân bố rộng rãi khắp các tỉnh từ Đông Nam đến Tây Nam với hơn 190 loài (How Foon – Chew, 1984) [40].
Theo Mã Cẩm Lâm (2005) [11], cây sở phân bố tự nhiên từ 180-340 vĩ độ Bắc, ở độ cao từ 0 - 2000 m. (1994) [32], các nghiên cứu về mở rộng vùng phân bố của sở đƣợc tiến hành từ những năm 1960 đến 1970 ở Trung Quốc do đã sớm nhận thức đƣợc giá trị to lớn mà loài cây này mang lại cho con ngƣời, đặc biệt là sản phẩm dầu ăn cao cấp đƣợc tách chiết từ hạt của các giống sở. Theo Tƣởng Vạn Phƣơng, 1959 [14] thì cây sở sinh trƣởng tốt ở độ cao dƣới 500m so với mực nƣớc biển. Tuy nhiên, ở độ cao 900m (An Huy), thậm chí ở độ cao 1700 - 2000m (Quý Châu, Vân Nam) cây vẫn sinh trƣởng và ra hoa kết quả bình thƣờng.
Theo Mã Cẩm Lâm (2005)[11], sở thích hợp với đất Feralit, tầng dày, pHKCl 4,5-6,0, nhiệt độ bình quân hàng năm 16-210C, lƣợng mƣa bình quân năm 900-1800mm, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối -130C. Nghiên cứu của Global - Mikhailenko - DA (1988) [34] đã chỉ ra rằng, tại tiểu bang Georgia - Mỹ, tất cả các cây sở đƣợc trồng ở độ cao trên 400m đều chết, ngƣợc lại, khi đƣợc trồng ở dƣới 400m cây sinh trƣởng tốt. Ở Nhật Bản, cây sinh trƣởng liên tục quanh năm, trong cả mùa đông giá lạnh có tuyết rơi. Sở có chu kỳ sống dài, tới hàng trăm năm.
So sánh cho thấy C.sasanqua Thunb sinh trƣởng nhanh hơn C. Các tác giả Chang Hung Ta & Bruce Bartholomew (1981)[29], LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ying (1982) [47] cho rằng, sở sinh trƣởng tốt ở nơi có nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất trên 20C, chịu đƣợc tuyết lạnh tới -100C, nhƣng để đảm bảo cây sinh trƣởng bình thƣờng cần có biện pháp chắn gió khô và lạnh vào mùa đông. Sở là cây chịu bóng khi nhỏ, đến giai đoạn trƣởng thành cây sinh trƣởng phát triển tốt nhất dƣới điều kiện ánh sáng đầy đủ nhƣng phải che phủ gốc cây bằng lá hoặc vật liệu khác.
Với vùng có ánh sáng nhiều, cần che bóng vào buổi sáng để tránh hiện tƣợng héo lá (Edward F. Gilmam and Dennis G. Watson, 1993); Marjan Kluepfel and Bop Polomski (1998), Shanan, H. Mã Cẩm Lâm, Trần Vĩnh Trung (2005) [11] đã chỉ ra chu kỳ phát triển vòng đời cây sở gồm có 4 giai đoạn: (i) Giai đoạn non 0 - 4 năm tuổi (đƣợc chia thành các giai đoạn nhỏ): cây mầm 0 - 4 tháng tuổi tính từ lúc hạt nảy mầm, cây con 4 tháng - 1năm tuổi, cây non 1 năm - 4 năm tuổi tính từ khi kết thúc giai đoạn cây con cho đến vụ ra hoa đầu tiên; (ii) Giai đoạn ra quả bói 5 - 9 năm tuổi: từ khi bắt đầu bói đến khi sai quả ổn định; (iii) Giai đoạn trƣởng thành 10 - 50 năm tuổi: rất sai quả, thiên về tăng trƣởng sinh thực và (iv) Giai đoạn già cỗi 50 - 100 năm tuổi: các mô suy thoái dần, sản lƣợng quả ngày càng giảm.
Việc chia chu kỳ phát triển cây sở ra làm 4 giai đoạn khác nhau là cơ sở để xây dựng các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng trồng sở theo các giai đoạn khác nhau nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao nhất. Giá trị sử dụng Theo Mã Cẩm Lâm và Trần Vĩnh Trung (2005) [11], các sản phẩm từ sở rất phong phú, giá trị sử dụng cũng nhƣ giá trị kinh tế cao, dầu tinh luyện từ hạt sở có thể đƣợc dùng làm dầu ăn, sản xuất mỹ phẩm (sử dụng trong kem chống nắng, kem massage, dầu thơm,…), chế phẩm y tế, hay trong công nghiệp (dầu thuỷ lực, dầu bôi trơn, diesel sinh học, …). Ở Trung Quốc, dầu sở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đƣợc coi là một trong những nguồn cung cấp dầu ăn quan trọng bởi giá trị dinh dƣỡng cao, trồng và chế biến dầu ăn từ cây sở có ý nghĩa quan trọng nhằm giảm lƣợng nhập khẩu dầu ăn hàng năm của nƣớc này. Trung Quốc là một trong những nƣớc đi đầu trong công tác nghiên cứu chế biến, chiết tách tinh dầu sở phục vụ cho sản xuất.