phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về đánh giá hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng công tác đánh giá hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bắc Á Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Bắc Á 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm thanh khoản của Ngân hàng thương mại Trong tài chính, thuật ngữ “ thanh khoản” được sử dung trong nhiều pham vi khác nhau.
Dưới góc ộ tài sản: thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản. Theo Giáo sư Peter Rose (2008), một tài sản có tính thanh khoản cao khi nó thỏa mãn đồng thời ba đặc điểm: có một thị trường sẵn sàng để có thể được chuyển thành tiền nhanh chóng; giá của tài sản phải ổn định, dù tài sản giá trị lớn thế nào hay cần được bán nhanh ra sao, thị trường vẫn đủ “sâu” để chấp nhận với mức giá thay đổi không đáng kể; thị trường của tài sản phải có khả năng đảo chiều để cho người bán có thể mua lại tài sản với mức tổn thất không đáng kể. Như vậy, tính thanh khoản của tài sản được đo lường thông qua thời gian và chi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu thời gian để chuyển hóa thành tiền ngắn, chi phí về chuyển nhượng thấp bao gồm các chi phí về giao dịch, chênh lệch giữa giá bán tài sản ngay tức thì và giá trị thị trường của tài sản.
Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel ban hành tháng 9/2008 thì “Thanh hoản à hả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa áp ứng các nghĩa vụ nợ hi n hạn mà hông những thiệt hại quá mức cho phép”. Như vậy, có thể hiểu rằng tính thanh khoản của ngân hàng là g uô có g y ộ ượ g ố d g ớ c í ấ đú g ờ để g g có uc u ặc ă g c ó g uy độ g được ố ô g qu c đườ g y ợ yb s. Tính thanh khoản của ngân hàng phải được xem xét 8 ở từng thời điểm cụ thể và ở những thời điểm khác nhau thì tính thanh khoản của ngân hàng có thể là khác nhau. Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh hoản ròng Theo Peter Rose (2008) và Trần Huy Hoàng (2011) yêu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét qua mô hình cung cấp về thanh khoản.
Trong đó: - Cung thanh khoản: là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng. - Cầu thanh khoản: là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản vay làm giảm quỹ của ngân hàng. Những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng. - Những nghiệp vụ của cung cầu thanh khoản: Cung thanh khoản Cầu thanh khoản Các khoản tiền gửi đang đến Khách hàng rút các khoản tiền Doanh thu từ việc bán các khoản gửi dịch vụ Yêu cầu cấp các khoản tín dụng Thu hồi tín dụng đã cấp có chất lượng cao Bán các tài sản đang kinh doanh và Hoàn trả các khoản vay mượn sử dụng phi tiền gửi Vay mượn từ thị trường tiền tệ Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ Thanh toán cổ tức cho các cổ đông - Trạng thái thanh hoản ròng: Ở bất cứ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng lúc và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và có thể được tính như sau: NLPt = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Như vậy trạng thái thanh khoản ròng là chệnh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm.
Ở đây xảy ra một trong ba trường hợp: 9 NLPt > 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thặng dư thanh khoản (liquidity surplus). Trạng thái này mang lại những thiệt hại cho NH do NH đang dư thừa tiền dự trữ không sinh lời. Do vậy các NH cần phải đưa ra các quyết định để sử dụng hiệu quả các khoản dư thừa vốn khả dụng đó. NLPt < 0: điều này có nghĩa là ngân hàng ở trong tình trạng thâm hụt thanh khoản (liquidity deficit), tức NH đang thiếu hụt tiền để chi trả.
Để tiếp tục tồn tại, NH phải xác định bổ sung thanh khoản ngay từ nguồn nào và với chi phí bao nhiêu nhằm giúp NH trở lại trạng thái cân bằng thanh khoản. NPLt = 0: NH có được trạng thái thanh khoản cân bằng, đây là trạng thái hoàn hảo nhưng rất khó đạt được trong thực tế hoạt động của NH. Khái niệm rủi ro thanh khoản Từ trạng thái thâm hụt thanh khoản của NH, có thể hiểu RRTK xảy ra khi NH rơi vào tình trạng thiếu hoặc không đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thường xuyên. Như vậy RRTK là loại rủi ro khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung cấp đủ nhưng với chi phí cao.
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel (2008), “Rủi ro thanh hoản à rủi ro mà một nh ch tài chính hông ủ hả năng tìm i m ầy ủ ngu n vốn ể áp ứng các nghĩa vụ n hạn mà hông àm ảnh hưởng n hoạt ộng inh oanh hàng ngày và cũng hông gây tác ộng n tình hình tài chính”. Theo Rudolf Duttweiler (2009), “Thanh hoản ại iện cho hả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán hi n hạn – n mức tối a và ằng ơn v ti n tệ ược quy nh. Do thực hiện ằng ti n mặt, thanh hoản chỉ iên quan n các òng ưu chuyển ti n tệ. Việc hông thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ ẫn n tình trạng thi u hả năng thanh hoản”.
Như vậy, rủi ro thanh khoản là s g g ô gđ ă gđ ứ g dò g ề ú ỏ g g ộ ờ để đó, ặc uy độ g ố ớ c íc để đ ứ gc c uc u ề ố d g. 10 Một TCTD gặp rủi ro thanh khoản khi nó bị lâm vào tình trạng thiếu vốn khả dụng, không có khả năng vay mượn để đáp ứng kịp thời yêu cầu rút tiền gửi, yêu cầu vay vốn, và các yêu cầu về tiền mặt khác. Trong hoàn cảnh này, các TCTD hoặc buộc phải vay “nóng” với chi phí quá cao, hoặc phải bán các tài sản với giá thấp hơn để chi trả cho những yêu cầu tiền mặt cấp bách của nó và do đó làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận. Rủi ro thanh hoản ngu n vốn un ing ris Là rủi ro mà ngân hàng không thể đáp ứng một cách hiệu quả cả luồng tiền ra hiện tại và tương lai có dự báo và ngoài dự báo mà không ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày và cân đối tài chính của ngân hàng.
Đây là rủi ro khi ngân hàng không tìm kiếm được đủ nguồn vốn để đáp ứng các nhu cầu chi trả của mình. Rủi ro thanh hoản th trư ng (Market liquidity risk) Là rủi ro mà ngân hàng không thể dễ dàng đánh đổi hoặc loại trừ một khối lượng tài sản của mình với mức giá thị trường (giá bị giảm mạnh) vì thiếu chiều sâu của thị trường giao dịch. Trong trường hợp này, ngân hàng gặp khó khăn và mất chi phí cao trong việc chuyển đổi các tài sản đang nắm giữ thành tiền. Khi đó, ngân hàng sẽ phải bán những tài sản gấp với giá thấp và chi phí giao dịch lớn.
Nguyê dẫ đến r i ro thanh kho n Nguyên nhân gây nên rủi ro thanh khoản có nhiều và nó đến từ nhiều khía cạnh trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: Từ chủ quan đến khách quan, từ bản thân ngân hàng, từ khách hàng, cơ chế chính sách và từ các loại rủi ro khác đưa lại… Tuy nhiên trên góc độ nghiên cứu để tìm ra giải phảp hiệu quả đối với quản trị rủi ro thanh khoản, luận văn đưa ra những loại nguyên nhân chủ yếu như sau: - Nguyên nhân khách quan 11 Thứ nhất, sự mất ổn định yếu tố vĩ mô của nền kinh tế: hoạt động kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với những biến động của môi trường kinh doanh. Các yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội luôn có tác động trực tiếp và gián tiếp tới các quyết định và phương hướng kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Khi sự bất ổn của nền kinh tế xảy ra có thể tạo ra khủng hoảng và gây ra rủi ro thanh khoản cho hệ thống các Ngân hàng thương mại. Thứ hai, thay đổi trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW thông qua các công cụ như quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất suất chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá.
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động của NHTW mua hoặc bán cho NHTM trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước. Khi muốn tăng cung tiền, NHTW mua giấy tờ có giá từ các NHTM, số tiền mà NHTW trả cho NHTM làm tăng cung tiền cho nền kinh tế đồng thời cũng làm tăng cung thanh khoản cho NHTM. Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, NHTW bán trái phiếu cho các NHTM, số tiền mà NHTW thu về làm giảm cung ứng tiền tệ của nền kinh tế đồng thời cũng làm giảm cung thanh khoản của NHTM. Quy định về tỷ lệ Dự trữ bắt buộc là biện pháp điều chỉnh mà NHTW bắt buộc các NHTM phải duy trì một tỷ lệ dự trữ tiền gửi tối thiểu tại NHTW.
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao thì sẽ làm cho nguồn cung thanh khoản của NHTM giảm và ngược lại. Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là lãi suất NHTW sử dụng trong chiết khấu hoặc tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM. Nếu lãi suất này thấp, tức chi phí vay tiền từ NHTW r , đây sẽ là nguồn vốn giá r mà các NHTM có thể dễ dàng huy động để đáp ứng cầu thanh khoản.