Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu + Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu + Chương 3: Kết quả nghiên cứu - Phần kết luận và kiến nghị Ngoài ba phần trên, luận văn còn có thêm phần mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo. 9 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH NGHỀ 1. Tổng quan một số công trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Từ những năm 90 của thế kỉ XIX, đã có nhiều nghiên cứu về TĐG ở nước ngoài.
Các tác giả tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: nghiên cứu về cái Tôi; về các yếu tố của tự đánh giá; vai trò của tự đánh giá đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân… Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về vấn đề này. Một trong những người đầu tiên nghiên cứu về TĐG bản thân là William James - nhà Tâm lý học người Mỹ. Trong chương sách “Ý thức về bản thân” thuộc tác phẩm “Những điều trọng yếu trong tâm lý học” , W. James có quan điểm nghiên cứu về cái Tôi khá thuyết phục.Ông cho rằng khái niệm cái tôi được phát triển từ sự so sánh xã hội, chúng ta thường so sánh mình với “những người quan trọng khác”.
Trong hoạt động, người ta luôn so sánh thành tích đạt được với những nguyện vọng được hình thành. Thông qua kinh nghiệm bản thân và ảnh hưởng của người khác mà cá nhân nhận ra: Tôi là ai? Tôi sẽ là người như thế nào? Họ muốn tôi là người như thế nào?. Để tìm câu trả lời này, trong quá trình so sánh mình với người khác các cá nhân đã có sự tự đánh giá về mình và tự đánh giá về người khác, qua đó thấy được vai trò và vị thế của mình trong các nhóm xã hội. Như vậy, ông đã đưa ra công thức của TĐG bản thân = Thành công/ khả năng [28, tr47].
Đồng quan điểm với W. James khi nghiên cứu tự đánh giá, George H.Mead (nhà Tâm lý học, Xã hội học người Mỹ) đã nghiên cứu về cái Tôi và con đường hình thành cái Tôi. Coi trọng yếu tố tương tác xã hội tạo nên cái tôi, Mead tập trung vào quá trình cá nhân gia nhập và trở thành thành viên của một nhóm xã hội. Ông cho rằng, nguyên nhân của quá trình này là cá nhân nội tâm hoá những ý tưởng và thái độ của những nhân vật quan trọng trong cuộc sống mà anh ta đã quan sát, chấp nhận chúng và thể hiện chúng ra ngoài như là của riêng mình.
Nội tâm hoá thái độ của người khác đối với mình, cá nhân đánh giá cao bản thân khi được những người khác chấp nhận và 10 z ngược lại cá nhân đánh giá thấp bản thân khi bị bác bỏ, từ chối. Do đó, có thể hiểu cái Tôi được hình thành trên việc “nội tâm hoá thái độ” và điều chỉnh thái độ của bản thân dựa trên đánh giá của người xung quanh về mình. Theo Sigmund Freud (1856 - 1939), cấu trúc tâm lý nhân cách của con người gồm 3 phần: Bản năng, ý thức và siêu ý thức. Trong đó Freud cho rằng ý thức tự ngã luôn luôn bị chi phối bởi bản năng mà nội dung chính của nó là “libido”; là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thuỷ và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú, bản chất của cái nó là thuộc về dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức.
Mục đích của nó là thoả mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến các hậu quả. Nhưng khi ý thức tự ngã bị kiềm chế bởi cái tôi - những định khuôn, quy ước xã hội (social conventions) – thì lúc này cái tôi đóng vai trò là “viên trọng tài giữa những đòi hỏi bản năng của cái nó và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài”. Do đó, “cái Tôi” luôn bị mâu thuẫn bởi sự chi phối của bản năng dục vọng và sự kiềm chế của ý thức xã hội. Cho nên, cá nhân luôn diễn ra sự đấu tranh nội tâm, có sự đánh giá chính mình để vừa thoả mãn những nhu cầu bản năng đồng thời phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Do đó, đây cũng chính là một trong những nguồn gốc bên trong của TĐG [dẫn theo 9, tr10]. Các nhà Tâm lý học theo chủ nghĩa Freud mới là H. Adler nghiên cứu sự hình thành TĐG đã lý thuyết hoá nguồn gốc của sự TĐG bản thân. Mối quan hệ liên nhân cách là nền tảng của sự TĐG bản thân, nhấn mạnh sự quan trọng đặc biệt của cha mẹ, anh chị em ruột.
Cụ thể là, việc cha mẹ nuông chiều con cái có ảnh hưởng tiêu cực đến đứa trẻ: những đứa trẻ được nuông chiều sẽ có một giá trị thổi phồng không thực tế so với giá trị thực của chúng; Chúng trở thành tự kỷ trung tâm và đòi hỏi, không muốn hoặc không chuẩn bị phấn đấu cho sự trưởng thành trong các mối quan hệ xã hội. Horney cho rằng: đứa trẻ có nguy cơ bị mắc chứng nhiễu tâm liên quan đến sự phát triển không thuận lợi của các mối tương quan ở trẻ, ảnh hưởng đến tự đánh giá, dẫn đến việc trẻ mang hình tượng cái tôi bị xuyên tạc: “Nó không mang lại cho người bị nhiễu tâm khả năng hiểu và chấp nhận bản thân thực tế với chính mình”. 11 z Chứng rối nhiễu tâm lý có thể phòng ngừa được nếu ở lứa tuổi ấu thơ đứa trẻ ở trong một gia đình có đủ tình yêu thương, ấm áp và thông cảm, nó cảm thấy được an toàn. Do đó có thể khẳng định, TĐG của cá nhân chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố giáo dục gia đình.
Tác giả Morris Rosenberg là một trong số người có nhiều cống hiến cho việc nghiên cứu nguồn gốc và yếu tố ảnh hưởng đến sự TĐG. Là một nhà xã hội học, ông cho rằng các điều kiện xã hội có ảnh hưởng nhiều đến sự TĐG, trong đó sự quan tâm và chú ý của người cha khác nhau trong các nhóm dân tộc, địa vị, nhóm thiểu số có liên quan có ý nghĩa tới sự TĐG của con cái. Thanh thiếu niên có sự gần gũi với cha mình có sự TĐG cao hơn những người có mối quan hệ cha con xa cách. Stanley Coopersmith cũng nghiên cứu về nguồn gốc của sự TĐG trong tác phẩm “Những tiền đề của tự đánh giá” và cho rằng nguồn gốc của TĐG ở trẻ: - Là toàn bộ hoặc gần như toàn bộ sự chấp nhận của cha mẹ đối với đứa trẻ.
- Các giới hạn và nội quy đối với đứa trẻ được xác định rõ. - Sự tôn trọng các hành động cá nhân tồn tại trong giới hạn được xác định trên. Hệ quả là cha mẹ của những đứa trẻ có sự TĐG cao thì quan tâm và chú ý tới đứa trẻ và xây dựng một cuộc sống phù hợp với những cách thức mà họ cho là phù hợp và cho phép một mức độ tự do tương đối lớn trong khuôn khổ đã được hình thành. Khi giới hạn được xác định rõ, cho phép đứa trẻ đánh giá được rõ các thành tích hiện có cũng như so sánh các hành vi và thái độ trước đó.
Điều này sẽ giúp cho đứa trẻ có sự TĐG bản thân cao [26, tr56]. Một hướng nghiên cứu của Alfred Adler liên quan đến TĐG đó là, yếu tố thể chất của cá nhân cũng ảnh hưởng đến TĐG của cá nhân đó: Sự không khoẻ mạnh về thể chất, sự yếu ớt trong việc phát triển cơ bắp, sự thiếu hụt một vài bộ phận trên cơ thể… có ảnh hưởng lớn đến TĐG của cá nhân. Khái niệm “mặc cảm tự ti” nảy sinh khi cá nhân nhận thấy sự thua kém của bản thân khi cố gắng vượt qua những nhược điểm nhưng nhiều lần bị thất bại; hoặc cá nhân quá chú ý đến sự kém cỏi của bản thân sẽ dẫn đến sự tự ti. 12 z Có thể thấy rằng, TĐG đã được nghiên cứu từ rất sớm dưới nhiều góc độ khác nhau trong đó có Tâm lý học.
Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ như: sự hình thành của TĐG, các đặc trưng của TĐG, vai trò của TĐG đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Trong đó, đối tượng của TĐG chính là bản thân chủ thể, là “cái Tôi”: Cá nhân đánh giá khái quát về các giá trị của mình đồng thời đánh giá cụ thể từng phẩm chất năng lực của bản thân trong mối tương quan với người khác. TĐG là điều kiện bên trong của tự ý thức, tự hoàn thiện nhân cách.TĐG có nguồn gốc từ đặc điểm và thái độ của các nhóm xã hội mà cá nhân tham gia vào, đồng thời cũng xuất phát từ bên trong là mong muốn, nguyện vọng của mỗi cá nhân. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Theo quan điểm thông thường tại Việt Nam thì “đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật”.
Từ những quan điểm trên có thể thấy rằng khái niệm đánh giá chỉ việc định giá về giá trị của một con người, một sự vật, một hiện tượng. “Nghiên cứu tự đánh giá thái độ học tập môn toán của sinh viên cao đẳng sư phạm Hà Nội” (năm 2000), tác giả Đào Lan Hương đã tiến hành nghiên cứu trên 360 sinh viên. Phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu là điểu tra bằng bảng hỏi, bên cạnh đó tác giả còn sử dụng phương pháp thực nghiệm khảo sát thực trạng mức độ phù hợp của TĐG về thái độ học toán ở sinh viên; và áp dụng biện pháp thử nghiệm tác động nhằm nâng cao khả năng TĐG phù hợp của sinh viên về thái độ học toán; đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành thực nghiệm kiểm chứng biện pháp nâng cao khả năng TĐG phù hợp của sinh viên về thái độ học toán. Với nghiên cứu này, Đào Lan Hương đã rút ra một số kết luận: Khả năng TĐG thái độ học toán của sinh viên phát triển không đồng đều với các mức độ khác nhau: Có sự khác biệt về khả năng TĐG thái độ học toán ở những sinh viên khác nhau về kết quả học tập, thái độ học tập, vị thế trong tập thể, hoạt động nghề nghiệp và môi trường học tập, cụ thể là: TĐG phù hợp chiếm tỉ lệ cao nhất ở nhóm sinh viên khá, giỏi là 44.16%, sinh viên có học lực trung bình có tỉ lệ là 26.25% và sinh viên yếu, kém là 8.
Trong đó, những sinh viên học tập đạt kết quả thấp lại 13 z có xu hướng tự đánh giá cao: 61.