ĐẶT VẤN ĐỀ Fomalđehyt là một trong những hóa chất công nghiệp cơ bản, rất độc nhƣng lại thông dụng. Sản lƣợng fomalđehyt thế giới hiện nay khoảng 20 triệu tấn/năm và tăng hàng năm khoảng 5%, đứng thứ 4 trong bảng xếp hạng các loại hóa chất thông dụng. Hàng năm Việt Nam sử dụng khoảng 30 - 35 nghìn tấn fomalđehyt 37%. Nhu cầu này ngày càng tăng cùng với sự tăng trƣởng của nền kinh tế.
Fomalđehyt đƣợc dùng rộng rãi trong các ngành công nghiệp dệt, nhựa,. Ngoài ra, Fomalđehyt có tính sát trùng cao nên trong y học sử dụng để diệt vi khuẩn, sát trùng và là dung môi để bảo vệ các mẫu thí nghiệm, các cơ quan trong cơ thể con ngƣời, ƣớp xác. Tổ chức Y tế Thế giới liệt kê fomalđehyt vào loại hóa chất độc hại đối với sức khỏe con ngƣời. Fomalđehyt gây những triệu chứng cấp tính nhƣ kích thích gây cay niêm mạc mắt, đỏ mắt, kích thích đƣờng hô hấp trên gây chảy mũi, viêm thanh quản, viêm đƣờng hô hấp, hen phế quản, viêm phổ; gây viêm da tiếp xúc, viêm da dị ứng, nổi mề đay; làm chậm tiêu, rối loạn tiêu hóa, viêm loét dạ dày, viêm đại tràng.
Fomalđehyt là một chất có tiềm năng gây ung thƣ đã đƣợc tranh luận từ những năm 1980. Từ tháng 4 năm 2004, fomalđehyt đã đƣợc Cơ quan Nghiên cứu Ung thƣ Quốc tế phân loại thuộc nhóm 3 (chất có khả năng gây ung thƣ) sang nhóm 1 (chất gây ung thƣ). Tuy nhiên, hiện giờ phân loại fomalđehyt là chất có khả năng gây ung thƣ vẫn duy trì trên toàn EU. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về mức độ ô nhiễm của fomalđehyt trong môi trƣờng không khí cũng nhƣ những ảnh hƣởng của nó đến sức khỏe con ngƣời.
Ngoài lĩnh vực công nghiệp, lĩnh vực y học cũng đƣợc nhiều nƣớc quan tâm và nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm fomalđehyt trong môi trƣờng không khí làm việc có sử dụng fomalđehyt nhƣ Khoa giải phẫu bệnh,., trong các bệnh viện. Tuy nhiên ở Việt Nam, hiện nay có các đánh giá về điều kiện lao động và sức khỏe nghề nghiệp cho ngƣời lao động nói chung, nhƣng đối với ngƣời lao động Luận văn thạc sỹ khoa học – Nguyễn Thị Thanh Hải – Khóa 2010 - 2012 10 z là nhân viên y tế (NVYT) thì chƣa đƣợc quan tâm chú trọng, nhất là các NVYT tại Khoa Giải phẫu bệnh của các bệnh viện, nơi mà họ thƣờng xuyên phải tiếp xúc với fomalđehyt. Mặc dù, đã có các nghiên cứu đánh giá về mức độ ô nhiễm fomalđehyt trong môi trƣờng không khí và ảnh hƣởng tới sức khỏe con ngƣời tại một số ngành công nghiệp nhƣ: sản xuất hóa chất, gỗ, nhựa,., nhƣng hầu nhƣ chƣa có một nghiên cứu đánh giá nào về mức độ ô nhiễm fomalđehyt trong không khí và ảnh hƣởng sức khỏe tới NVYT tại bệnh viện. Vì vậy, đề tài “Đánh giá mức độ ô nhiễm fomalđehyt trong môi trường làm việc ở một số bệnh viện và nguy cơ rủi ro sức khỏe” đƣợc tiến hành với mục tiêu và nội dung nghiên cứu nhƣ sau: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá mức độ ô nhiễm fomalđehyt trong môi trƣờng làm việc ở một số bệnh viện.
- Đánh giá nguy cơ rủi ro sức khỏe. Nội dung nghiên cứu của đề tài - Đánh giá hiện trạng sử dụng và mức độ ô nhiễm fomalđehyt trong môi trƣờng làm việc tại một số Bệnh viện. - Điều tra đánh giá tình hình sức khỏe của nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với fomalđehyt tại một số Bệnh viện. - Đánh giá nguy cơ, rủi ro sức khỏe đối với nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với fomalđehyt tại một số Bệnh viện.
- Đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn môi trƣờng làm việc tiếp xúc trực tiếp với fomalđehyt tại một số Bệnh viện. Luận văn thạc sỹ khoa học – Nguyễn Thị Thanh Hải – Khóa 2010 - 2012 11 z Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 1. Thông tin chung về fomalđehyt 1. Fomalđehyt (HCHO) tự nhiên đƣợc sản xuất với số lƣợng rất nhỏ nhƣ là một quá trình trao đổi chất bình thƣờng trong cơ thể con ngƣời và quá trình đó không có hại cho con ngƣời.
Fomalđehyt cũng đƣợc tìm thấy trong không khí mà chúng ta hít thở hàng ngày ở nhà và ở nơi làm việc, trong thực phẩm chúng ta ăn ….Một nguồn chính của fomalđehyt mà chúng ta hít thở hàng ngày đƣợc tìm thấy trong sƣơng mù trong khí quyển. Khí thải từ ô tô cũng có chứa fomalđehyt. Môi trƣờng không khí trong nhà, nguồn thải ra fomalđehyt là do khói thuốc lá, bếp ga, lò sƣởi[11]. Các quá trình xảy ra trong tự nhiên cũng thải ra formaldehyde nhƣ: cháy rừng, chất thải động vật, sản phẩm vi sinh vật của các hệ thống sinh học.
Nó cũng có thể đƣợc hình thành trong nƣớc biển bởi quá trình quang hóa. Fomalđehyt là sản phẩm trong quá trình chuyển hóa ở sinh vật, do đó đƣợc tìm thấy tự nhiên trong nhiều loại thực phẩm: rau củ, trái cây, nấm khô, thịt cá, và ngay cả trong nƣớc uống. Hàm lƣợng focmol tự nhiên trong thực phẩm có từ 3- 23mg/kg, tùy loại thực phẩm (IARC, 1982 – International Agency for Research on Cancer). Fomalđehyt có thể đƣợc tạo ra từ sự cháy không hoàn toàn của các vật liệu chứa cacbon.
Có thể tìm thấy trong khói của các đám cháy rừng, trong khí thải ô tô và trong khói thuốc lá. Trong khí quyển Trái Đất, fomalđehyt đƣợc tạo bởi phản ứng của ánh sáng mặt trời và ôxy đối với mêtan và hyđrocacbon khác trong khí quyển. Một lƣợng nhỏ fomalđehyt đƣợc tạo ra nhƣ là sản phẩm phụ trong quá trình trao đổi chất của phần lớn các sinh vật, trong đó có con ngƣời. Trong tự nhiên, fomalđehyt có sẵn trong gỗ, táo, cà chua, khói động cơ, khói thuốc lá, khói đốt gỗ, dầu và khí hóa lỏng (gas).
Ngoài ra, fomalđehyt còn hiện diện trong các sản phẩm đã qua chế biến nhƣ sơn và dầu bóng, gỗ ép, keo, vải, chất chống cháy, các chất bảo quản và chất cách ly…[20]. Luận văn thạc sỹ khoa học – Nguyễn Thị Thanh Hải – Khóa 2010 - 2012 12 z 1. Cấu tạo, tính chất hoá lý của HCHO. Cấu trúc phân tử của fomalđehyt.
Fomalđehyt là hợp chất hữu cơ có rất nhiều tên gọi khác nhau nhƣ focmol, metyl anđehyt, metylen oxit, metan, là anđehyt đơn giản nhất… Công thức hóa học là HCHO, là hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và có khả năng chuyển sang thể khí ở điều kiện bình thƣờng, không màu, mùi cay xốc, khó ngửi, tan nhiều trong nƣớc (nếu dung dịch này có khoảng 40% theo thể tích hoặc 37% theo khối lƣợng gọi là focmôn hay focmalin). Fomalđehyt lần đầu tiên đƣợc nhà hóa học ngƣời Nga Aleksandr Butlerov tổng hợp năm 1859 nhƣng chỉ đƣợc Hoffman xác định chắc chắn vào năm 1867[30],[36]. Mặc dù fomalđehyt là một chất khí ở nhiệt độ phòng, nó rất dễ hòa tan trong nƣớc và chủ yếu đƣợc bán ra dƣới dạng dung dịch 37% trong nƣớc đƣợc gọi theo tên thƣơng phẩm là focmalin hay focmôn. Trong nƣớc, fomalđehyt bị pôlyme hóa và focmalin trên thực tế chứa rất ít fomalđehyt ở dạng đơn phân H2CO.
Thông thƣờng, các dung dịch này chứa thêm một chút mêtanon để hạn chế sự pôlyme hóa. Các thông số đặc trƣng của fomalđehyt: Phân tử gam: 30,03 g/mol Tỷ trọng và pha: 1 g/m3, khí Độ hòa tan trong nƣớc: > 100g/100ml (200C) Điểm nóng chảy: -1170C (156K) Điểm sôi: -19,30C (253,9 K) Luận văn thạc sỹ khoa học – Nguyễn Thị Thanh Hải – Khóa 2010 - 2012 13 z Điểm bắt lửa: -530C Fomalđehyt có các thuộc tính hóa học chung của các anđehyt, ngoại trừ nó là anđehyt hoạt động mạnh nhất. Fomalđehyt là một chất có ái lực điện tử (electrophil). Nó có thể tham gia vào các phản ứng thế thơm ái lực điện tử với các hợp chất thơm và cũng có thể tham gia các phản ứng cộng ái lực điện tử với các anken.
Trong sự hiện diện của các chất xúc tác có tính bazơ, fomalđehyt tham gia vào phản ứng cannizaro để tạo ra axít formic và mêtanon. Fomalđehyt bị pôlyme hóa theo hai hƣớng khác nhau để tạo ra tam phân vòng, 1,3,5-triôxan hay pôlyme mạch thẳng pôlyôxymêtylen. Sự hình thành của các chất này làm cho khí fomalđehyt có các tính chất không tuân theo các định luật của khí lý tƣởng một cách rõ nét, đặc biệt ở các nhiệt độ thấp hay áp suất cao. Fomalđehyt dễ dàng bị ôxi hóa bởi ôxy trong khí quyển để tạo ra axít formic.
Dung dịch fomalđehyt vì thế phải đóng nắp chặt để ngăn không cho tạo ra chất này trong quá trình lƣu trữ. Phản ứng cộng với hidro Anđehyt + hidro → rƣợu bậc nhất RCHO+H2→ RCH2OH Phản ứng với các amin Anđehyt + Amin → Imine + nƣớc Phản ứng aldol CH3-CHO+CH3-CHO → CH3-CH(OH)-CH2-CHO Phản ứng hỗn hợp Phản ứng cộng hạt nhân Phản ứng khử Anđehyt cộng hidro (xúc tác Niken) đun nóng tạo ra ancol bậc I. R-CHO + H2 → R-CH2OH Phản ứng oxi hóa Phản ứng đặc trƣng của Anđehyt là phản ứng tráng gƣơng: R-CHO + 2[Ag(NH3)2]OH → R-COONH4 + 2Ag + 3NH3 + H2O. Riêng HCHO có thể phản ứng tráng gƣơng với tỉ lệ 1:4 Luận văn thạc sỹ khoa học – Nguyễn Thị Thanh Hải – Khóa 2010 - 2012 14 z HCHO + 4[Ag(NH3)2]OH → (NH4)2CO3 + 4Ag + 6NH3 + 2H2O.
Các anđehyt đa chức phản ứng theo tỉ lệ 1:2n ( n là số chức -CHO). Ngoài ra anđehyt còn có phản ứng với dung dịch brom : R-CHO + Br2 + H2O → R-COOH + 2HBr. Anđehyt cũng có thể làm mất màu dung dich thuốc tím KMnO4. RCHO + KMnO4 → RCOOK + MnO2 + H20.
Anđehyt có phản ứng oxi hóa bởi O2 tạo ra axit cacboxylic tƣơng ứng với xúc tác Mn2+ và ở nhiệt độ cao: Các phản ứng: tráng gƣơng, làm mất màu dung dịch brom, làm mất màu dung dịch thuốc tím dùng để nhận biết Anđehyt. Tác hại và độc tính của fomalđehyt. Fomalđehyt ở dạng khí là chất dễ cháy, ở dạng lỏng cháy đƣợc. Khi cháy sinh ra khí độc, gặp lửa các phƣơng tiện chứa đựng có thể nổ.
Hơi nặng hơn không khí, có thể di chuyển xa gây cháy nổ ở xa nguồn[6]. Tổ chức Y tế Thế giới cũng liệt kê fomalđehyt vào loại hóa chất độc hại đối với sức khỏe con ngƣời. Cơ thể con ngƣời nếu tiếp xúc với fomalđehyt trong thời gian dài thì dù hàm lƣợng cao hay thấp cũng gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng cho da và hệ thống hô hấp, các bệnh về bạch cầu, gây ung thƣ nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là ung thƣ đƣờng hô hấp nhƣ mũi, họng, phổi,. Fomalđehyt là tác nhân gây ra sai lệch và biến dị các nhiễm sắc thể, phụ nữ có thai bị nhiễm có thể bị ảnh hƣởng đến sự phát triển của bào thai[25].