CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC VÀ KHUNG NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Định nghĩa về năng lực làm việc Mặc dù nội dung về năng lực làm việc có thể tìm thấy ở nhiều tài liệu sách, báo áo, luận văn trên thế giới nhưng hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chung nào về vấn đề này. Dựa trên các cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu sẽ định nghĩa năng lực làm việc theo các cách khác nhau. Dưới đây là một số định nghĩa tiêu biểu về năng lực làm việc: Spencer, L.M (1990) định nghĩa “… năng lực là những động lực, đặc điểm, sự tự nhận thức, kiến thức, quan điểm và các giá trị, các kỹ năng nhận biết và hành vi - bất kỳ một đặc điểm cá nhân nào mà có thể đo lường một cách đáng tin cậy mà những đặc điểm này có thể cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa những người thực hiện tốt và những người thực hiện trung bình, những người thực hiện hiệu quả và những người thực hiện không hiệu quả. Năng lực có thể bao gồm cả ý định, hành động và kết quả”.
Theo Bernard Wynne và David Stringer trong tác phẩm “Tiếp cận Đào tạo và Phát triển dưới góc độ Năng lực” năm 1997 thì “Năng lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ tích luỹ được của một cá nhân sử dụng để đạt được các kết quả mà công việc của họ đòi hỏi”. Nói cách khác thì năng lực được thể hiện qua kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ mà con người tích luỹ được và áp dụng để đạt được kết quả trong công việc của mình. Như vậy, năng lực được gắn với kết quả đầu ra của công việc, chứ không phải yếu tố đầu vào. Căn cứ vào phạm vi của bài nghiên cứu, năng lực làm việc có thể được định nghĩa như sau: “Năng lực làm việc là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của một cá nhân nhằm đảm bảo cho cá nhân đó có thể thực hiện được công việc và đạt kết quả tốt”.2 Mô hình khung năng lực làm việc Dựa vào các định nghĩa trên, mô hình khung năng lực bao gồm 3 yếu tố chính: Kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Kiến thức Năng lực làm việc Kỹ năng Thái độ Biểu đồ 1.1: Mô hình khung năng lực làm việc (Nguồn:Tổng hợp của nhóm nghiên cứu) Cụ thể: Kiến thức được định nghĩa là (i) chuyên môn và kỹ năng đã được cá nhân tiếp thu được thông qua kinh nghiệm hoặc đào tạo, hiểu biết về lý thuyết và thực hành của một lĩnh vực cụ thể, (ii) là vốn hiểu biết trong một lĩnh vực nhất định hoặc hiểu biết chung, bao gồm thực tiễn và thông tin, (iii) sự quan tâm hoặc am hiểu có được từ kinh nghiệm về một tình huống hoặc sự kiến nhất định. Tóm lại, kiến thức quy về hiểu biết liên quan đến kết quả thực hiện công việc. Hiểu biết là cái mà con người cần phải biết để có thể thực hiện được một công việc một cách hợp lý. Kỹ năng là khả năng tiếp thu để có thể thực hiện được một kết quả nhất định trong khoảng thời gian và công sức bỏ ra ít nhất.
Kỹ năng có thể phân loại thành kỹ năng chung và kỹ năng cụ thể trong một lĩnh vực nhất định. Kỹ năng thường đòi hỏi những bối cảnh hoặc kích thích nhất định từ môi trường để đánh giá mức độ kỹ năng được bộ lộ và áp dụng. 14 Thái độ là khuynh hướng phản ứng lại các đối tượng, tình huống theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Thái độ có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn về hành động, phản ứng lại các thách thức, động cơ và khen thưởng của mỗi cá nhân.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực làm việc của người lao động Mức thu nhập: Người lao động coi mức lương là một yếu tố để tạo động lực cho công việc của họ.
Quyết định này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là mức thu nhập mà một người muốn đi làm, hay là một mức thu nhập tối thiểu để người đó chấp nhận hy sinh thời gian của mình cho công việc. Phụ thuộc vào việc mức lương của họ ở mức độ nào (ít hay nhiều) mà họ cố gắng làm tốt hay không tốt bằng công việc của họ. Các đặc tính của hộ gia đình: Tùy thuộc vào quy mô của hộ gia đình, giới tính của người lao động, tình trạng hôn nhân và khả năng kinh tế của gia đình mà mỗi người lao động có những năng lực làm việc khác nhau. Ví dụ như một người lao động có quy mô gia đình lớn, và còn gia đình để chăm sóc thì họ không thể dành nhiều thời gian hy sinh được cho công việc, vì vậy năng lực làm việc của họ thường không được bằng những người có ít mối quan tâm cho gia đình.
Các yếu tố về khả năng: Năng lực của người lao động quyết định phần lớn cơ hội có việc làm của họ. Tuy nhiên, việc đo lường những yếu tố này rất khó, nếu có thì cũng không chính xác vì có rất nhiều nghuyên nhân như: trình độ học vấn phản ánh không chính xác khả năng có thể đảm nhận được công việc tốt hay không của người lao động, nó chỉ phản ánh hình thức đào tạo mà chưa đề cập tới những loại hình khác như đạo tạo trong công việc, đào tạo ngắn hạn; về chất lượng giáo dục đào tạo, ở các vùng miền và các trường khác nhau là khác nhau; những kiến thức học được ở trường cũng chưa chắc đã phù hợp đối với công việc trong thực tế. Động lực làm việc : Những động lực sẽ khuyến khích một người đi làm cũng sẽ làm tăng khả năng tham gia thị trường lao động của họ và do vậy ảnh hưởng tới khả năng làm việc của người lao động. Những nhân tố như: thái độ của gia đình đối với việc đi làm của một cá nhân, môi trường làm việc, hỗ trợ của các cơ quan chức năng và sự đào tảo bài bản cho công việc.
Tuy nhiên, người nghèo sẽ ít có cơ hội được học tập, đào tạo nghề, họ thiếu thông tin. 15 Vùng kinh tế: Người lao động ở các vùng miền kinh tế khác nhau sẽ có những khả năng và đặc điểm khác nhau. Ví dụ như người lao động từ nông thôn sẽ chăm chỉ và cần cù hơn người lao động ở thành phố. Tuy nhiên, người lao động ở những vùng miền nghèo khó thường không có cơ hội được đào tạo kỹ năng thiết yếu cho công việc.
16 CHƯƠNG 2 NGHỀ GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ NĂNG LỰC LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TẠI HÀ NỘI 2.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Nghề giúp việc gia đình Hiện nay ở Việt Nam chưa có quy định hay điều luật nào nêu chính xác, rõ ràng về khái niệm của nghề giúp việc gia đình. Căn cứ sự tìm hiểu qua các nghiên cứu trước đó, nhóm nghiên cứu đưa ra khái niệm sau: “ Nghề giúp việc gia đình là một loại hình dịch vụ, trong đó những lao động giúp việc gia đình bằng kiến thức và kỹ năng của mình sẽ tham gia vào các công việc gia đình trong mối quan hệ việc làm. Công việc gia đình được định nghĩa là "công việc được thực hiện trong hoặc cho một hộ gia đình hoặc nhiều hộ gia đình". Tính chất đặc thù: Thực hiện các công việc gia đình và chăm sóc gia đình, bao gồm các công việc như dọn dẹp nhà, nấu ăn, giặt và ủi quần áo, chăm sóc trẻ em, hoặc người cao tuổi hoặc người ốm trong gia đình, làm vườn, bảo vệ ngôi nhà, lái xe cho gia đình, và cả việc chăm sóc vật nuôi trong nhà.
Đối tượng khách hàng: Các hộ gia đình có nhu cầu sử dụng lao động giúp việc gia đình.2 Lao động giúp việc gia đình Theo PGS.TS Nguyến Hữu Minh, Viện trưởng Viện Giới và Gia đình cho rằng: Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào về người giúp việc gia đình trên thế giới. Mỗi nhà nước đều đang tự áp dụng những định nghĩa khác nhau và thi hành chính sách pháp luật khác nhau về khái niệm này và sử dụng thuật ngữ “lao động giúp việc gia đình” để chỉ người lao động làm các công việc khác nhau trong gia đình bao gồm cả công việc gia đình và chăm sóc gia đình. Ở Việt Nam, theo Dự thảo Bộ Luật lao động sửa đổi Điều 191 nêu: “Người giúp việc gia đình là người lao động được người sử dụng thuê để làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc trong gia đình là: Công việc nội trợ, quản gia, chăm 17 sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại”.
Theo Điều 179 Bộ luật Lao động 2012, lao động giúp việc gia đình được định nghĩa rằng: “Lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại. Người làm các công việc giúp việc gia đình theo hình thức khoán việc thì không thuộc đối tượng áp dụng của Bộ luật này”. Dựa theo kết quả nghiên cứu và tình hình tại Việt Nam hiện nay, nhóm nghiên cứu cho rằng :” Lao động giúp việc gia đình là những người lao động được trả tiền dựa trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động làm các công việc liên quan đến gia đình, có thể làm cho một hoặc nhiều gia đình khác nhau làm từ công việc nhà như đi chợ, nấu ăn, vệ sinh, nhà cửa, lau chùi, dọn dẹp, giặt giũ đến việc chăm sóc thành viên trong gia đình, như người già, trẻ em, phụ nữ, mang thai/sau khi sinh, người khuyết tật hoặc những công việc tạo ra lợi nhuận cho gia đình có thể diễn ra trong hoặc ngoài gia đình.
lao động giúp việc gia đình được thuê có thể sống cùng gia đình hoặc không tùy theo từng đối tượng người sử dụng lao động muốn, và có thể làm toàn thời gian cũng như bán thời gian”.