Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ Chương 3: Phương pháp nghiên cứu mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tín dụng tại Ngân hàng Quốc tế VIB – Chi nhánh Lý Thường Kiệt. Chương 4: Kết quả nghiên cứu mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tín dụng tại Ngân hàng Quốc tế VIB – Chi nhánh Lý Thường Kiệt Chương 5: Giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tín dụng tại Ngân hàng Quốc tế VIB – Chi nhánh Lý Thường Kiệt 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2. Tổng quan về chất lượng dịch vụ tín dụng 2. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ Khái niệm dịch vụ: Dịch vụ là một khái niệm, thuật nghĩ được sử dụng nhiều trong các hoạt động kinh doanh hoặc Marketing.
Có nhiều định nghĩa về dịch vụ được đưa ra. điển hình là khái niệm về dịch vụ theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000): “ Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” Hoặc theo như Gronross, 1990, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998 thì : “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương quan giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ; hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng”. Hoặc với Bùi Nguyên Hùng, dịch vụ được định nghĩa là :” là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. “ Để giải thích cho qua trình này tác giả đã đưa ra lập luận rằng, mục đích của quá trình này : “là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” Điểm chung giữa những khái niệm này là việc thực hiện các hoạt động một cách có hệ thống để tạo nên những giá trị nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Trong bài luận văn này, tác giả lựa chọn khái niệm dịch vụ của Gronroos để thực hiện các nghiên cứu về dịch vụ tín dụng Ngân hàng VIB - chi nhánh Lý Thường Kiệt Đặc điểm dịch vụ Khi nói về đặc điểm của dịch vụ, người nghiên cứu cần phải phải tập trung và các đặc tính khác biệt của dịch vụ so với các loại hàng hóa khác như: tính vô hình, 6 tính không đồng nhất, tính không thể cất trữ và tính không thể tách rời. Do những đặc điểm này nên dịch vụ là một khái niệm khó đo lường cũng như nhận dạng chúng bằng mắt tường. Tính vô hình: Khác với những sản phẩm hàng hóa tồn tại ở dạng vật chất hữu hình, có hình dáng cụ thể khác, dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể cân đo đóng đếm. Khi mua các sản phẩm vật chất khác, khách hàng có thể yêu cầu kiểm tra hay thử nghiệm chất lương trước nhưng với dịch vụ thì không thể thực hiện những bước này.
Trong dịch vụ không tồn tại khái niệm “mẫu thử” hay “dùng thử”, khách hàng chỉ có thể đánh giá, cảm nhận chất lượng dịch vụ sau khi sử dụng dịch vụ. Tính không đồng nhất: Tính không đồng nhất hay còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Việc thực hiện các dịch vụ khác nhau còn phụ thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp, những người tham gia phục vụ, thời gian, địa điểm, lĩnh vực và đối tượng phục vụ. Bên cạnh đó, cùng một loại dịch vụ có nhiều mức độ khác nhau từ cao cấp, phổ thông và thức cấp.
Do đó, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hỏa hay chưa thoản đáng cần phải xét đến nhiều yếu tố khác nhau trong từng trường hợp cụ thể. Tính không thể tách rời : Đặc điểm này được giải thích qua sự liên quan chặt chẽ giữa giai đoạn sản xuất và sử dụng của dịch vụ. Tức là, không giống như sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khó có thể được phân chia cụ thể thành giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Đối với dịch vụ, quá trình tạo thành và sử dụng thường diễn ra cùng lúc với nhau.
Trong khi hàng hóa thường phải trải qua đầy đủ các bước từ sản xuất, lưu kho, phân phối và giao đến cho người tiêu dùng thì dịch vụ được hình thành và sử dụng trong cùng một thời điểm. Trong khi sản phẩm hàng hóa cần trải qua quá trình đắp nặn mới đến được với khách hàng thì trong dịch vụ, khách hàng tham gia và đồng hành trong cùng quá trình hình thành dịch vụ. Nói chung, quá trình hình thành và quá trình sử dụng dịch vụ luôn gắn liên với nhau, diễn ra đồng thời với nhau. Tính không thể cất trữ: Đối với dịch vụ, không thể cất trữ hay lưu kho để chờ đến thời điểm mùa vụ giống như hàng hóa.
Khi dịch vụ được hình thành thì cần được sử dụng ngay lúc đó, không thể sản xuất hàng loạt sau đó đem cất trữ rồi đem ra sử dụng sau. Bởi vì dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian nó được cung cấp do đó chúng 7 không thể được dữ trữ lại tại các kho hàng và cũng không thể hoàn trả cung như thu hồi hay bán lại. Khái niệm chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ được định nghĩa chung là về “những gì mà khách hàng cảm nhận được”. Mỗi khách hàng sẽ có một nhận thức và những nhu cầu khác nhau nên cách khách hàng cảm nhận về một dịch vụ nào đó cũng sẽ khác nhau.
Về định nghĩa của “chất lượng dịch vụ” cũng có nhiều quan điểm khác nhau: Theo Advardsson, Thomasson và Ovretveit (1994), chất lượng dịch vụ là khi dịch vụ có khả năng đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và là nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Trong khi đó, Lewis & Mitchell (1990) và Dotchin&Oakland (1994) nhận định rằng chất lượng dịch vụ có liên quan đến khả năng mà dịch vụ đó có thể đáp ứng nhu cầu hay kỳ vọng của khách hàng. Còn theo Armand Feigenbaum “chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng - những yêu cầu này có thể được nêu ra hoặc không nêu ra, và được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn - và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”. American Society for Quality ( ASQ) nêu : “ Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa man mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”.
Dựa trên khái niệm Parasuraman ( 1985 và 1988) : “ Chất lượng dịch vụ được xác định bởi sự khác biệt giữa sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ và đánh giá của họ về dịch vụ mà họ nhận được”. Vào năm 1985 Parasuraman đưa ra một mô hình năm khoảng cách và năm thành phần chất lượng dịch vụ (gọi tắt là Servqual). Thuật ngữ Servqual được ghép từ hai từ “ Service” và “Quality” được nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận và đánh giá là một thuật ngữ thể hiện khá toàn diện các khía cạnh của chất lượng dịch vụ. Về sau, Servqual ngày càng được hoàn thiện thông qua việc tập trung vào khái niệm về “ Sự cảm nhận chất lượng” của người tiêu dùng bởi 8 vì sự cảm nhận chất lượng của khách hàng là thước đo khách quan nhất về chất lượng dịch vụ.
Các nhân tố quyết định đến chất lượng dịch vụ Có nhiều yếu tố có vai trò quyết định trong việc đo lường chất lượng dịch vụ và việc nhận định một cách chính xác các yếu tố này phần nhiều phụ thuộc vào các tính chất của dịch vụ và môi trường thực hiện nghiên cứu. Do đó, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện về vấn đề này nhưng nghiên cứu được biết đến nhiều nhất và được sử dụng phổ biến nhất là các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman. Mô hình 5 khoảng cách được coi là mô hình lý thuyết mang tính tổng quát nhất về chất lượng dịch vụ. Parasuraman ( 1985) và các cộng sự đã thực hiện nhiều khảo sát, nghiên cứu để có thể xây dựng được thang đo trong từng lĩnh vực dịch vụ; theo kết quả nghiên cứu bất kỳ dịch vụ nào thì chất lượng của dịch vụ đó cũng được khách hàng cảm nhận dựa trên 10 yếu tố thành phần, bao gồm: (1) Tin cậy, (2) Đáp ứng; (3) Năng lực phục vụ; (4) Khả năng tiếp cận; (5) Phong cách phục vụ, (6) Thông tin, (7) Tín nhiệm; (8) An toàn; (9) Hiểu biết khách hàng; (10) Phương tiện hữu hình ( dẫn theo Bexley J.
Ưu điểm lớn nhất của mô hình này là có khả năng bao quát mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên mô hình vẫn tồn tại khuyết điểm đó là, cả 10 thành phần trong thang đo SERVQUAL khá phức tạp nên đã gây ra khó khăn trong quá trình phân tích và đánh giá. Sau đó, Parasuraman cùng các cộng sự (1988) đã chỉnh sửa lại và xây dựng một mô hình mới với 5 thành phần cơ bản ( Nguyễn Đình Thọ, 2007). Bảng dưới đây thể hiện mối quan hệ giữa 2 mô hình bao gồm: mô hình gốc Parasuraman (1985) và mô hình chỉnh sửa (1988): Mô hình gốc (1985) Mô hình hiệu chỉnh ( 1988) Phương tiện hữu hình (Tangible) Phương tiện hữu hình ( Tangibles) Tin cậy (Reliability) Tin cậy (Reliability) Đáp ứng ( Competence) Đảm bảo (Asurance) Năng lực phục vụ (Respnsiveness) Năng lực phục vụ ( Responsiveness) Lịch sự ( Courtesy) 9 Tín nhiệm ( Credibility) An toàn (Security) Tiếp cận (Access) Cảm thông ( Empathy) Thông tin ( Communication) Hiểu biết khách hàng ( Understanding customer) Nguồn: Zeithmal, Parasuraman & Berry (1988) dẫn theo Bexley J.