Luận văn thạc sĩ đánh giá mức độ bệnh do nấm ceratocytis sp gây hại trên cây keo tai tượng acacia mangium will theo cấp tuổi tại huyện đại từ tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ đánh giá mức độ bệnh do nấm Ceratocytis sp gây hại trên cây keo tai tượng Acacia mangium Will theo cấp tuổi tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2015

55
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiến

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học

2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.1.1. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng
2.2.1.2. Nghiên cứu về bệnh hại keo
2.2.1.3. Nghiên cứu về nấm Ceratocystis
2.2.1.4. Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh

2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2.2.2.1. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng
2.2.2.2. Nghiên cứu về bệnh hại Keo
2.2.2.3. Nghiên cứu về nấm Ceratocystis sp
2.2.2.4. Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh do nấm Ceratocytis sp

Bệnh do nấm Ceratocytis sp là một trong những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến cây keo tai tượng (Acacia mangium) tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Nấm này gây ra hiện tượng cây chết héo từ ngọn xuống, một triệu chứng khó phát hiện ở giai đoạn đầu. Theo nghiên cứu, tỷ lệ mắc bệnh do nấm này chiếm tới 83% trong tổng số các bệnh hại cây rừng. Việc phát hiện sớm và đánh giá mức độ bệnh là rất quan trọng để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

1.1. Tình hình bệnh do nấm Ceratocytis sp

Nấm Ceratocytis đã được ghi nhận là nguyên nhân chính gây hại cho cây keo tai tượng tại nhiều vùng trồng. Tại Đại Từ, bệnh này đã xuất hiện và gây thiệt hại lớn cho năng suất và chất lượng rừng trồng. Các nghiên cứu cho thấy, nấm này phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự lây lan của bệnh. Việc đánh giá mức độ bệnh là cần thiết để xác định tỷ lệ bị bệnh (P%) và mức độ bị bệnh (R%) của cây keo theo cấp tuổi.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập mẫu cây keo tai tượng tại các khu vực khác nhau trong huyện Đại Từ. Các mẫu bệnh được phân tích để xác định nguyên nhân gây bệnh và mức độ thiệt hại. Phương pháp đánh giá thiệt hại bao gồm việc xác định tỷ lệ bị bệnh (P%) và mức độ bị bệnh (R%) trung bình của bệnh do nấm gây ra. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho việc quản lý và phòng trừ bệnh hại trên cây keo.

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cây keo tai tượng (Acacia mangium) tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu tập trung vào việc xác định nguyên nhân gây bệnh và đánh giá thiệt hại do nấm Ceratocytis sp gây ra. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các khu vực trồng keo có tỷ lệ mắc bệnh cao, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình bệnh hại trong khu vực.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bị bệnh (P%) và mức độ bị bệnh (R%) của cây keo tai tượng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi nấm Ceratocytis sp. Các số liệu thu thập được cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh tăng theo cấp tuổi của cây. Cây keo từ 3 đến 5 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, cho thấy sự nhạy cảm của cây ở giai đoạn này. Việc đánh giá thiệt hại do bệnh gây ra là cần thiết để có biện pháp phòng trừ hiệu quả.

3.1. Tỷ lệ và mức độ bệnh

Tỷ lệ bị bệnh (P%) và mức độ bị bệnh (R%) trung bình của cây keo tai tượng trong khu vực nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các cấp tuổi. Cụ thể, cây keo từ 3 đến 5 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, trong khi cây trên 5 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn. Điều này cho thấy rằng việc theo dõi và quản lý bệnh hại trên cây keo là rất quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của sự phát triển.

IV. Đề xuất biện pháp phòng trừ

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số biện pháp phòng trừ bệnh hại do nấm Ceratocytis sp được đề xuất. Việc phát hiện sớm triệu chứng bệnh và áp dụng các biện pháp can thiệp kịp thời là rất quan trọng. Các biện pháp như cắt tỉa cành, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và chọn giống cây kháng bệnh sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của người dân về bệnh hại cũng là một yếu tố quan trọng trong công tác phòng trừ.

4.1. Biện pháp can thiệp

Các biện pháp can thiệp bao gồm việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có hiệu quả, cắt tỉa cành bị bệnh và theo dõi thường xuyên tình trạng sức khỏe của cây. Việc áp dụng các biện pháp này sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do nấm Ceratocytis sp gây ra, đồng thời bảo vệ năng suất và chất lượng rừng trồng. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và người dân trong việc thực hiện các biện pháp phòng trừ bệnh hại.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá mức độ bệnh do nấm ceratocytis sp gây hại trên cây keo tai tượng acacia mangium will theo cấp tuổi tại huyện đại từ tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Rừng là nguồn tài nguyên quý giá và có thể tái tạo được ban tặng cho mọi sinh vật trên trái đất. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: Cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người. Mối quan hệ của rừng và cuộc sống đã trở thành một mối quan hệ hữu cơ. Không có một dân tộc, một quốc gia nào không biết rõ vai trò quan trọng của rừng trong cuộc sống.

Tuy nhiên, ngày nay, nhiều nơi con người đã không bảo vệ được rừng, còn chặt phá bừa bãi làm cho tài nguyên rừng khó được phục hồi và ngày càng bị cạn kiệt, nhiều nơi rừng không còn có thể tái sinh, đất trở thành đồi trọc, sa mạc, nước mưa tạo thành những dòng lũ rửa trôi chất dinh dưỡng, gây lũ lụt, sạt lở cho vùng đồng bằng gây thiệt hại nhiều về tài sản, tính mạng người dân. Vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trường đang trở thành vấn đề thời sự và lôi quấn sự quan tâm của toàn thế giới. Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33,12 triệu ha trong đó 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 47% năm 1943 và độ che phủ rừng suy giảm xuống còn 27,2% trong thập niên 90 của thế kỷ XX. Trước tình hình đó Đảng và Nhà Nước đã đưa ra nhiều chủ chương, chính sách nhằm bảo vệ, phát triển, gây trồng, sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững như các dự án PAM, 327, chiến lược phát triển lâm nghiệp (2006 - 2020) nhằm đưa độ che phủ rừng lên 47% năm 2020 (Bộ NN & PTNN 2005).

Ở nước ta keo được trồng ở hầu hết các tỉnh từ Miền Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ với mục đích chủ yếu làm nguyên n 2 liệu cho công nghiệp sản xuất giấy. Tuy nhiên gần đây tại một số vùng trồng keo trọng điểm trên đã xuất hiện những cây keo bị chết héo từ trên ngọn xuống hay còn gọi là hiện tượng cây chết ngược, bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu. Các mẫu bệnh đã được phòng Bảo vệ rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp giám định nguyên nhân là do loài nấm Ceratocystis sp. Với điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta tạo điều kiện cho nhiều loài nấm phát triển đặc biệt là Ceratocystis sp đã bắt đầu xuất hiện trên cây keo tại một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh.

Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rừng trồng keo. Việc nghiên cứu và phát hiện sớm bệnh ở một số vùng trồng keo trọng điểm nước ta là rất quan trọng nhằm lập kết hoạch ngăn chặn bệnh dịch phát triển và lan rộng giảm nguy cơ thiệt hại về kinh tế và môi trường. Keo là loài cây thuộc họ đậu, có khả năng cải tạo đất, chu kỳ kinh doanh ngắn, do vậy là loài cây được ưu tiên để trồng rừng trên đất nước Việt Nam đặc biệt là tỉnh Thái Nguyên. Với diện tích trồng trong cả tỉnh Thái Nguyên như vậy thì xảy ra rất nhiều bệnh hại khác nhau, đặc biệt là nấm Ceratocystis sp gây ra.

Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định, được nguyên nhân gây bệnh hại đối với cây Keo tai tượng trên khu vực trồng. - Đánh giá được tỷ lệ bị bệnh và mức độ bệnh hại của nấm Ceratocystis sp đối với cây Keo tai tượng theo cấp độ tuổi. - Đánh giá được tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh của nấm Ceratocystis sp trên khu vực nghiên cứu. n 3 - Đề xuất được một số biện pháp phòng trừ bệnh hại đối với cây Keo tai tượng tại địa bàn nghiên cứu.

Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu đề tài giúp cho học sinh củng cố và hệ thống lại những kiến thức đã học, từ đó vận dụng vào thực tiến sản xuất. Đồng thời có cơ hội làm quen với một số phương pháp sử dụng ngoài thực tế, cũng như trong nghiên cứu đề tài điều tra đánh giá bệnh hại do nấm Ceratocystis sp gây ra ở rừng trồng. Đồng thời đây cũng là cơ hội để giúp chúng em học tập tích lũy kinh nghiệm, nâng cao rèn luyện kỹ năng cho bản thân.

Ý nghĩa thực tiến Thông qua việc nghiên cứu bệnh hại, trên cơ sơ đó xác định các biện pháp giảm thiểu ngăn ngừa dịch bệnh, bảo vệ cây trồng rừng, không làm ảnh hưởng đến năng suất của người trồng Keo tai tượng. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu cầu sản xuất cây nông nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con người, giữa ý thức hệ duy tâm và duy vật. Ngay từ đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Đào Hồng Thuận) [7]. Bệnh cây là tình trạng sinh trưởng và phát triển không bình thường của cây dưới tác động của một hay nhiều yếu tố ngoại cảnh hoặc là vật ký sinh nào đó gây nên những thay đổi trong quá trình sinh lý.

Từ đó dẫn đến những thay đổi trong chức năng cấu trúc, giải phẫu hình thái của một bộ phận nào đó trên cây hoặc toàn bộ cây làm cho cây sinh trưởng và phát triển kém, thậm chí có thể chết gây nên những thiệt hại về kinh tế (Đặng Kim Tuyến, 2005) [8]. Theo thống kê kết quả điều tra các nguyên nhân gây bệnh ở rừng nhiệt đới của Brown năm 1968 thì trong tổng số 772 loài cây rừng nhiệt đới khi điều tra tỷ lệ mắc bệnh cho thấy: Bệnh do nấm gây ra chiếm tới 83%, bệnh do cây kí sinh 12%, bệnh do Vi khuẩn chiếm 3,4%, bệnh do Virus chiếm 1% và còn lại là các nguyên nhân khác. Đối với rừng ôn đới có khí hậu lạnh tỷ lệ mắc bệnh do nấm chiếm từ 95% - 97%, còn lại là các nguyên nhân khác. Như vậy bệnh cây rừng nói chung chủ yếu do nấm gây nên (Đặng Kim Tuyến, 2005) [8].

Theo cách hiểu thông thường, bệnh cây là khoa học nghiên cứu về cây bị bệnh, sinh trưởng và phát triển không bình thường vì những lý do sinh vật cũng như không phải sinh vật. Bệnh cây là kết quả tác động của 3 yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và điều kiện bên ngoài. Cách hiểu trên giúp chúng ta n 5 nắm được nội dung và thực chất của bệnh cây ở mức độ từng cá thể. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cách hiểu trên đây chưa cho phép giải quyết một cách có cơ sở những trường hợp cụ thể về bệnh cây.

Trong hoạt động thực tế của mình, người làm công tác bệnh cây phải giải quyết các nhiệm vụ có liên quan đến những tập đoàn có cây lớn, vi sinh vật gây bệnh, trong những khoảng không gian nhất định, thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu, đất đai khác nhau (Đào Hồng Thuận) [7]. Phòng trừ bệnh cây bao gồm nhiều biện pháp khác nhau. Có những biện pháp có tác dụng phòng, bảo vệ cây, có biện pháp có tác dụng trừ một loại bệnh cụ thể. Chúng bao gồm 6 biện pháp chủ yếu: Kỹ thuật lâm nghiệp (gồm các biện pháp canh tác, tổ chức và quản lý kinh doanh rừng), chọn giống cây chống chịu bệnh, kiểm dịch thực vật, sinh vật học, vật lý cơ giới và hoá học (Đào Hồng Thuận) [7].

Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về gây trồng Keo tai tượng Keo tai tượng là loài cây mọc nhanh có biên độ sinh thái khá rộng. Keo tai tượng rất kén đất đòi hỏi đất phải tốt và sâu ẩm.

Là cây họ đậu nên Keo tai tượng không chỉ là cây kinh tế mà còn là cây che phủ cải tạo đất và cải thiện điều kiện môi trường, ngày nay loài cây này đang được mở rộng ở nhiều nước, điển hình như Inđônêxia, Malaixia, Philippin,Thái Lan, Ấn độ, Nigiêria, Tanzania, Băng-la-đét, Trung quốc, Mỹ. Ngay cả Papua Niu Ghine, nơi có Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở phía Đông và phía Nam cũng đã tiến hành dẫn giống lên phía Bắc để phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo đất thoái hóa sau nương rẫy [10]. Ở Inđônêxia Keo tai tượng cũng được trồng từ những năm 1940. Ở Thái Lan, Keo tai tượng đã được đưa vào trồng từ năm 1935, nhưng mãi đến n 6 năm 1964 trở lại đây mới được phát triển mạnh.

Năm 1961 Trung Quốc đã nhập khoảng 50 loài từ Ôxtrâylia vào trồng thử nghiệm, song chỉ có một số loài có triển vọng và được gây trồng trên diện rộng, trong đó có Keo tai tượng [10]. Tình hình sinh trưởng của Keo tai tượng trên các địa điểm của mỗi nước cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu cụ thể nơi gây trồng. Nhưng nhìn chung ở những nơi có lượng mưa trên 2000mm, đất giầu dinh dưỡng thì khả năng sinh trưởng khá nhanh, trung bình chiều cao có thể đạt trên 2,5m/năm. Ở những nơi đất đai xấu khả năng sinh trưởng thường rất kém, chiều cao bình quân chỉ đạt khoảng 1,0m/năm, nhất là vùng miền tây Bengan của Ấn độ chỉ đạt dưới 0,5m/năm.

Với mức tăng trưởng về đường kính và chiều cao như vậy, ở những nơi đất đai và khí hậu thuận lợi trong chu kỳ kinh doanh dưới 10 năm, năng suất bình quân về trữ lượng gỗ cũng chỉ đạt khoảng từ 10-15m/ha/năm. Tuy nhiên, bằng con đường cải thiện giống kết hợp các biện pháp thâm canh như làm đất toàn diện bằng bằng cơ giới, bón phân và tăng cường các biện pháp chăm sóc, một số nước đã đưa năng suất rừng trồng lên trên 30m/năm [10]. Nghiên cứu về bệnh hại keo Năm 1961 - 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại Keo [13]. Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây bạch đàn và keo.

Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phâ lập từ một số loài keo. Đó là nấm Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A. simsii; nấm Uromycladium robinsonii gây bệnh gỉ sắt ở lá giả loài A. melanoxylon; nấm Oidium sp gây bệnh phấn trắng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ