CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ TÍNH LÀNH MẠNH CỦA MÔI TRƯỜNG TÀI CHÍNH MỘT QUỐC GIA 1.1 Môi trường tài chính và các khía cạnh của môi trường tài chính Môi trường tài chính là sự tổng hợp và tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố tài chính gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động và tồn tại của các thành phần bên trong của nền kinh tế một quốc gia. Có thể nói MTTC (bao gồm cả các yếu tố của môi trường luật pháp về tài chính) là môi trường ảnh hưởng gần như lớn nhất hay có thể nói là có tính chất quyết định đối với sự tồn tại, phát triển hay sự trì trệ của một đất nước. Các yếu tố của MTTC tác động và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động của nền kinh tế, buộc các cấp, các ngành phải có giải pháp thích hợp và kịp thời nhằm đạt hiệu quả cao trong sự phát triển của đất nước. MTTC nói khái quát hơn là tập hợp những nhân tố vi mô và vĩ mô trong nền kinh tế, nó tác động một cách trực tiếp và gián tiếp đến các thành phần bên trong nền kinh tế.2 Các dấu hiệu của một môi trường tài chính kém lành mạnh 1.1 Tỷ lệ tăng trưởng nóng và không ổn định Tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo.
Không những thế, tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện và tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp. Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng. Đối với các nước đang phát triển như nước ta, tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển. Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia, nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá.
Thực tế cho thấy, không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt. Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế "quá nóng", 123doc Trang 2 gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên. Khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, khó có thể giữ vững được ổn định trong dài hạn vì bản thân tăng trưởng kinh tế nhanh thường chứa đựng nhiều nhân tố gây mất cân đối dẫn tới khủng hoảng. Và ngược lại nền kinh tế tăng trưởng quá chậm lại làm cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh gây trì trệ và làm hạn chế đầu tư.
Sự tăng trưởng lúc nhanh lúc chậm như vậy đều có những ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế và chính sự tăng trưởng không ổn định đó sẽ chứa đựng nhiều nguy cơ rủi ro, làm cho các nhà đầu tư e ngại khi phải liều lĩnh bỏ vốn vào thị trường như thế này. Đến lúc này, nền kinh tế sẽ rơi vào cảnh mở cửa nhưng không ai vào. Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững.2 Thị trường tài chính bất ổn định Thị trường tài chính là một bộ phận quan trọng, chi phối hoạt động của nền kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của nó sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Thị trường tài chính là thị trường mà trong đó vốn được chuyển từ những người hiện có dư thừa sang những người thiếu vốn, tức là đưa vốn từ những người không thể sử dụng nó một cách sinh lợi cho mình, sang những người có thể sử dụng nó một cách sinh lợi, đưa đến hiệu quả kinh tế cao hơn nhờ vậy thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh doanh. Không chỉ đối với người có tiền đầu tư, thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn đối với cả người vay tiền để đầu tư. Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình.
Bên cạnh đó, thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ thông qua các hình thức như phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh trong nước. 123doc Trang 3 Do vậy khi có sự thiếu đồng bộ trong việc phối hợp quản lý, điều hành giữa các kênh huy động và giữa các loại thị trường hoặc khả năng tập trung, phân bổ, kiểm soát nguồn lực tài chính qua thị trường chưa thực sự hiệu quả đều gây ra bất ổn trên thị trường tài chính. Và khi có một “trục trặc” nào đó xảy ra với thị trường tài chính thì nguồn vốn “thừa” và “thiếu” sẽ không “bù đắp” được cho nhau. Người cần thì không có còn người thừa thì chẳng biết để đâu.
Thông tin về nguồn vốn lúc này trở nên khó khăn và không hoàn hảo cho các nhà đầu tư. Sự hạn chế trên TTCK cũng là một biểu hiện. Nguồn tài chính được ví như dầu bôi trơn hoạt động cho các DN và khi nền kinh tế ngày càng lớn mạnh, phức tạp và vận hành với tốc độ cao hơn thì đòi hỏi chất lượng dầu nhờn phải được nâng cấp lên nhiều hơn nữa. Với tính bất ổn như vậy các nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán do các DN phát hành chỉ là những nhà đầu tư ngắn hạn, nhỏ lẻ, không đủ khả năng cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế vì họ sợ sẽ phải gánh chịu những biến động và những cú sốc từ thị trường.
Điều này sẽ khiến nguồn vốn mà họ cung ứng cho các DN trước đây bị tổn thất đáng kể. Ngoài ra việc sử dụng các công cụ phái sinh vào những mục đích bất chính cũng làm tăng thêm những bất ổn cho thị trường tài chính và hậu quả của nó sẽ làm đóng băng trên thị trường tín dụng làm phá sản các NHTM do mất khả năng thanh toán… 1.3 Chính sách kinh tế tài chính vĩ mô không thỏa đáng Chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá hối đoái là ba chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng. Chính sách tài khoá là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế theo mục tiêu của mình. Vì vậy một sai lầm trong việc điều hành chính sách tài khóa sẽ đem lại những kết quả ngược lại.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều nước dựa vào mô hình tăng nhanh đầu tư dù phải chấp nhận gánh nặng nợ nước ngoài ngày càng gia tăng, nghĩa là tăng trưởng cao bằng mọi giá. Kết quả đã đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế xấp xỉ hai con số, nhưng dẫn tới lạm phát gia tăng, nền kinh tế phát triển quá “nóng”, các nhân tố khủng hoảng kinh tế – tài chính hình thành và ngày càng chín muồi, dẫn tới khủng hoảng không thể tránh khỏi. Ngoài ra, việc đưa ra chính sách thuế hợp lý hay không sẽ tác động đến tình hình kinh tế cũng như chính trị của quốc gia. Việc cắt giảm thuế sẽ khuyến 123doc Trang 4 khích các thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh nhưng lại làm hẹp nguồn thu của ngân sách.
Vì vậy chính sách tài khoá phải dung hòa được hai vấn đề trên để đảm bảo kinh tế phát triển và ổn định. Không chỉ riêng chính sách tài khoá mà chính sách tiền tệ là một trong hai chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng. Khi cần kích thích kinh tế tăng trưởng, NHTW sẽ làm tăng lượng cung tiền. Ngược lại, khi cần hạ nhiệt cho nền kinh tế, chống lạm phát, NHTW sẽ làm giảm lượng cung tiền.
Một khi chính sách tiền tệ được thực thi tốt sẽ khuyến khích đầu tư, sản xuất, kích thích tăng trưởng. Nhưng một sự gia tăng hay cắt giảm lãi suất không hợp lý sẽ tác động nhanh chóng tới thị trường tiền tệ và khả năng gây ra lạm phát hay giảm phát là rất có thể. Chính sách tiền tệ, về mặt nội dung và bản chất thì đó là một bộ phận hợp thành của chính sách kinh tế, và trong một mức độ, chính sách tiền tệ có một quan hệ khăng khít với chính sách tài khoá quốc gia. Vì vậy việc vận hành chính sách sách tiền tệ không thể không đặt nó với sự vận hành của chính sách phát triển kinh tế và chính sách tài khoá quốc gia và do vị trí khá đặc thù của nó trong việc nhạy cảm với điều kiện của tình hình tiền tệ – tín dụng và ngoại hối, nên việc vận hành chính sách tiền tệ đòi hỏi phải nhạy cảm và uyển chuyển thì mới thu được kết quả.
Bên cạnh đó, chính sách tỷ giá hối đoái cũng được xem xét điều chỉnh cho phù hợp, vì khi tỷ giá không phù hợp cũng gây ra những tổn hại cho nền kinh tế như: suy giảm năng lực cạnh tranh trong thương mại quốc tế của hàng hoá dịch vụ, kìm hãm xuất khẩu, khuyến khích nhập khẩu, gây sức ép cho các ngành sản xuất trong nước. Chính sách tỷ giá không thỏa đáng sẽ tạo những cơn sốc cho nền kinh tế, tỷ giá trên thị trường mất ổn định, hạn chế hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Bản chất của nền kinh tế là thường xuyên phát sinh những nhân tố gây khủng hoảng. Nếu các chính sách kinh tế vĩ mô không nhạy cảm và không điều chỉnh phù hợp với những tình hình đó thì không thể tránh khỏi khủng hoảng và lúc này MTTC đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.4 Hệ thống các định chế tài chính chưa hoàn thành tốt chức năng Như phần trên đã nhận định, thị trường tài chính là một bộ phận quan trọng, chi phối hoạt động của nền kinh tế hàng hóa.