Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan cơ sở lý luận về xã hội hóa hoạt động BVMT 1. Khái niệm xã hội hóa Khái niệm và XHH hiện nay được dùng với hai nội dung: Nội dung thứ nhất: Thuật ngữ XHH chỉ sự tăng cường chú ý quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó của xã hội mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội, có trách nhiệm quan tâm. Nói cách khác, do tầm quan trọng, ý nghĩa xã hội của những vấn đề cụ thể đó mà từ chỗ chỉ một nhóm hay một cộng đồng hay một bộ phận của xã hội quan tâm, đến nay càng ngày càng được đông đảo quần chúng quan tâm.
Đó là quá trình XHH các vấn đề, sự kiện xã hội, các hoạt động như XHH giáo dục, XHH y tế…. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về XHH căn cứ vào tính chủ động của cá nhân trong quá trình XHH, chúng ta có thể tạm chia các định nghĩa nói trên thành 2 loại như sau: Loại 1: Ít đề cập đến tính chủ động của cá nhân trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội. Các cá nhân dường như bị khuôn vào các chuẩn mực khuôn mẫu không chống đối lại được. Nói cách khác, mỗi cá nhân được xã hội mặc cho một “chiếc áo văn hóa” phù hợp (theo cách nhìn của xã hội) với từng nơi, từng thời điểm, từng giai đoạn của cuộc sống nhưng cá nhân không có quyền tự chọn mình.
Loại 2: Khẳng định tính tích cực, sáng tạo của cá nhân trong quá trình XHH. Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham gia vào quá trình tạo ra các kinh nghiệm xã hội. Nhưng dù có những khác biệt, song các nhà khoa học đều thống nhất tại một điểm: XHH là một quá trình. Tức là, XHH có bắt đầu, có diễn biến và có kết thúc.
Theo định nghĩa này, vai trò của cá nhân trong quá trình XHH chỉ giới hạn trong việc tiếp cận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực. Chúng chưa đề cập tới khả năng cá nhân chúng có thể tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn mực để xã hội học theo. Như vậy, dường như cá tính của con người bị tan biến vào những đặc điểm xã hội mà cá nhân tiếp thu được. Chúng ta thừa nhận một thực tế rằng, trong quá trình tương tác xã hội mỗi con người đều có những điểm mà đối tác của họ có thể học tập.
Trong lịch sử đã có những nhân cách lớn tạo ra hàng loạt các chuẩn mục, giá trị…được thừa nhận trong một quốc gia, những nhà giáo dục học, những nhà khoa học, những nhà văn hóa nổi tiếng thế giới. Một nhà xã hội học khác của Mỹ Ficher đã xem: "XHH là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó" [10]. Như vậy, Ficher đã chú ý hơn tới tính tích cực của cá nhân trong quá trình XHH. Định nghĩa của nhà khoa học người Nga G.Andreeva đã nêu được cả hai mặt của quá trình XHH.
Tác giả cho rằng: "XHH là quá trình hai mặt. Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào mối quan hệ xã hội" [10] Như vậy, cá nhân trong quá trình XHH không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội, mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, tâm thế, xu hướng của cá nhân để tham gia tái tạo, "tái sản xuất" chúng trong xã hội. Mặt thứ nhất của quá trình XHH là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của môi trường tới con người.
Mặt thứ hai của quá trình này là thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình. Xã hội hóa hoạt động BVMT Theo tác giả Lê Quỳnh Mai: XHH công tác BVMT được hiểu là việc cho phép các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, HTX ngoài khu vực kinh tế nhà nước tự do kinh doanh các hoạt động cung cấp dịch vụ BVMT, cùng với quá trình thu hẹp các lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước kéo dài suốt nửa thế kỷ qua. Mặt khác, XHH còn đồng nghĩa với việc người dân và các đối tượng tiếp nhận lợi ích môi trường tăng thêm đóng góp tài chính (thuế, cước phí dịch vụ, thậm chí cả một phần vốn đầu tư ban đầu.) và chủ động tham gia giám sát rộng rãi, dân chủ hơn để được thụ hưởng các dịch vụ và tiện ích môi trường đa dạng hơn, chất lượng cao hơn, thuận tiện và phù hợp nhu cầu của mình hơn. Bùi Tâm Trung: XHH công tác BVMT là việc huy động lực lượng cộng đồng tham gia vào các hoạt động BVMT, vào các hoạt động quản lý môi trường các cấp, vào việc ra quyết định liên quan đến BVMT của cơ quan nhà nước [17].Trần Thanh Lâm: XHH công tác BVMT là quá trình chuyển hóa tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động BVMT trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội phục vụ cho công tác BVMT để đạt được mục tiêu phát triển bền vững [16].
Theo GS Nguyễn Viết Phổ: XHH công tác BVMT là việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp BVMT của đất nước. Hay nói cách khác, XHH công tác BVMT là phải biến chủ trương BVMT thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới mọi người dân trong xã hội [24]. Các khái niệm về XHH công tác BVMT trên tuy được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng đều có một điểm chung đó là việc huy động sự tham gia của cộng đồng, của toàn xã hội cho công tác BVMT đồng thời biến công tác BVMT trở thành quyền lợi và trách nhiệm của mọi người. XHH công tác BVMT là sự kết hợp hài hoà giữa vai trò của nhân dân và sự đầu tư quản lý của nhà nước, kết hợp lợi ích của cộng đồng với các thành phần kinh tế cùng tham gia nhằm chia sẻ gánh nặng 6 cho ngân sách nhà nước và địa phương.
Khi cộng đồng tham gia vào công tác BVMT nhà nước sẽ có thêm nguồn lực để giải quyết các vấn đề ưu tiên khác. Mục đích của XHH công tác BVMT là nhằm huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội để thực hiện các hoạt động BVMT từ việc ra các quyết định, chính sách tới những hoạt động trực tiếp, cụ thể nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường,… hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. XHH công tác BVMT có ý nghĩa rất quan trọng, làm cho mọi thành phần trong xã hội đều thấy được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ, BVMT. Từ nhận thức đó tạo nên những chuyển biến trong thói quen, nếp sống, trong công việc hàng ngày theo hướng thân thiện hơn với môi trường, góp phần phát triển bền vững.
Các nguyên tắc cơ bản của mô hình cộng đồng tham gia BVMT Như đã đề cập ở trên, hiện nay rất nhiều mô hình XHH BVMT đang được nghiên cứu và áp dụng thí điểm. Các mô hình đều dựa vào các yếu tố cơ bản sau: 1. Tăng quyền lực cộng đồng Tăng quyền lực cộng đồng là sự phát triển sức mạnh của cộng đồng trong xây dựng mô hình BVMT thông qua việc các cơ quan quản lý khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và trao quyền tự chủ cho cộng đồng trong những lĩnh vực cụ thể. Tăng cường sự kiểm soát và tiếp cận của cộng đồng trong giải quyết một vấn đề môi trường nào đó như việc sử dụng và quản lý tài nguyên sẽ tạo ra cơ hội tốt hơn cho tích lũy lợi ích kinh tế địa phương.
Sự tăng cường quyền lực cũng có ý nghĩa là xây dựng nguồn lực và khả năng của cộng đồng để quản lý và giải quyết có hiệu quả những vấn đề môi trường của họ theo cách bền vững nhất [12]. Tăng quyền lực có liên quan đến: - An toàn trong sử dụng tài nguyên. - Công bằng trong quản lý tài nguyên và triển khai các mô hình. - Quyền lợi tham gia các mô hình - xác định các nhu cầu, thiết kế mô hình, thực thi và đánh giá kết quả cũng như tham gia vào các quyết định khác.
7 - Xây dựng ý thức môi trường tự quản và xây dựng các mô hình tự quản về môi trường tại cộng đồng. - Được giáo dục và huấn luyện về tài nguyên môi trường, kiến thức về xây dựng mô hình. Sự công bằng Công bằng có nghĩa là sự bình đẳng giữa mọi cá nhân và tổ chức đối với những cơ hội có được trong việc xây dựng các mô hình BVMT. Mọi người đều có quyền như nhau trong việc tiếp cận thông tin, quyền được hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp, lợi ích vật chất và phi vật chất, lợi ích trước mắt và lâu dài do việc triển khai các mô hình BVMT mang lại.
Phát huy kiến thức bản địa Kiến thức truyền thống bản địa có những giá trị nhất định trong việc xây dựng các mô hình BVMT. Sở dĩ như vậy vì những kiến thức truyền thống bản địa là những kiến thức mà người dân ở một cộng đồng đã tạo nên và phát triển theo thời gian. Kiến thức này rất có giá trị vì là những kiến thức dựa trên kinh nghiệm, thường xuyên được kiểm nghiệm trong suốt một quãng thời gian rất dài, thích hợp với đặc điểm sinh thái, văn hóa, xã hội của từng vùng. Do đã quen và được truyền lại từ lâu đời, đồng thời được sử dụng để khai thác bền vững nguồn tài nguyên tại chỗ nên những kiến thức này rất dễ được người dân hiểu và vận dụng trong đời sống, sinh hoạt thường ngày.
Khi cộng đồng tham gia bàn bạc, giải quyết công việc cụ thể của một mô hình BVMT nào đó sẽ có cơ hội đưa những kiến thức này ra để xem xét và vận dụng sáng tạo trong những điều kiện hoàn cảnh mới.