Tổng quan nghiên cứu

Quảng Ngãi là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với địa hình đồi núi chiếm tới ba phần tư tổng diện tích tự nhiên. Theo số liệu thống kê địa chính, tính đến cuối năm 2014, diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh đạt 416.766 ha, chiếm 80,88% tổng diện tích tự nhiên, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm ưu thế với 274.654 ha (tương đương 53,3%). Sự chuyển dịch mạnh mẽ từ đất chưa sử dụng (giảm từ 147.596 ha năm 2008 xuống còn 45.032 ha năm 2014) sang đất phát triển lâm nghiệp đã tạo tiền đề quan trọng cho các phương thức canh tác nông lâm kết hợp hình thành và mở rộng nhanh chóng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tiễn sản xuất: phần lớn các hệ thống canh tác xen canh cây nông nghiệp dưới tán rừng trồng tại địa phương mang tính tự phát, nhằm mục đích lấy ngắn nuôi dài trong 1 đến 2 năm đầu của chu kỳ cây gỗ. Các mô hình này chưa được đánh giá một cách có hệ thống về hiệu quả kinh tế, tác động xã hội cũng như chức năng bảo vệ môi trường sinh thái.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào việc khảo sát, phân loại và xác định các mô hình nông lâm kết hợp phổ biến; phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của mô hình; đánh giá toàn diện hiệu quả đa chiều thông qua các chỉ số tài chính, việc làm và khả năng hấp thụ carbon; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách nhằm nhân rộng mô hình theo hướng bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai trên chuỗi dữ liệu giai đoạn 2008 - 2014 tại 4 huyện đại diện cho các vùng sinh thái đặc thù của tỉnh: Trà Bồng, Tây Trà (vùng miền núi cao), Nghĩa Hành (vùng trung du) và Sơn Tịnh (vùng đồng bằng ven biển). Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo sinh kế ổn định cho hơn 90% dân số nông nghiệp tại các huyện khảo sát, hỗ trợ trực tiếp công tác xóa đói giảm nghèo tại các địa bàn khó khăn như huyện Tây Trà với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 56,78%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của các lý thuyết và mô hình khoa học nông lâm kết hợp tiêu biểu:

Lý thuyết phân loại hệ thống nông lâm kết hợp của Nair (1993) và Trung tâm Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp Quốc tế (ICRAF): Hệ thống nông lâm kết hợp được định nghĩa là phương thức quản lý tài nguyên đất liên tục, kết hợp có tính toán giữa cây thân gỗ lâu năm với cây nông nghiệp ngắn ngày hoặc chăn nuôi theo không gian và thời gian. Phân loại cấu trúc gồm 3 nhóm chính: hệ thống nông - lâm, lâm - súc và nông - lâm - súc.

Lý thuyết đánh giá hiệu quả tổng hợp hệ thống canh tác (Ect - Effective Indicator of Farming System) do Walfredo Raquel Rola (1994) phát triển: Phương pháp này tích hợp các chỉ báo định lượng và định tính về kinh tế, xã hội và môi trường về một chỉ số đồng nhất từ 0 đến 1, trong đó giá trị Ect càng tiến gần 1 thể hiện mô hình đạt tính bền vững và hiệu quả tối ưu nhất.

Lý thuyết phân tích chi phí - lợi ích (Cost-Benefit Analysis - CBA) trong đầu tư nông lâm nghiệp của Alan Rogers và Peter Taylor (1999): Xem xét bản chất của mô hình canh tác như một dự án đầu tư sinh học có dòng tiền biến đổi theo chu kỳ luân kỳ từ 5 đến 7 năm.

Các khái niệm then chốt trong nghiên cứu bao gồm: Hệ canh tác Lâm - Nông (Forestry-Agriculture System), Đất dốc canh tác bền vững (SALT), Tỷ suất nội hoàn vốn (IRR), Giá trị hiện tại ròng (NPV) và Sinh khối hấp thụ carbon rừng trồng quy đổi theo hệ số chuẩn của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2008 - 2014 và nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa năm 2015.

Quy trình chọn mẫu và thu thập số liệu:

  • Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (Purposive Stratified Sampling) kết hợp bộ công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA). Phương pháp này được lựa chọn vì cho phép bao quát các tiểu vùng sinh thái khác nhau từ ven biển đến núi cao, đồng thời tiếp cận trực tiếp các hộ gia đình có kinh nghiệm canh tác thực tế.
  • Cỡ mẫu điều tra: Khảo sát chuyên sâu tại 4 huyện trọng điểm; phỏng vấn 4 cán bộ chuyên trách cấp tỉnh, 4 cán bộ nông nghiệp cấp huyện; lựa chọn 8 mô hình hiện trường điển hình (2 mô hình đại diện trên mỗi huyện) và thực hiện phỏng vấn bảng hỏi cấu trúc với 32 chủ hộ nông dân trực tiếp quản lý mô hình (8 hộ/huyện).
  • Điều tra sinh trắc học thực địa: Thiết lập các ô tiêu chuẩn diện tích 300 m2 tại các mô hình đại diện nhằm đo đếm mật độ, tỷ lệ sống, đường kính thân, chiều cao vút ngọn của cây lâm nghiệp chính (Keo lai, Keo tai tượng) và thống kê năng suất cây trồng xen (Sắn cao sản, Dứa).

Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu:

  • Phân tích kinh tế: Ứng dụng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để chiết khấu dòng tiền theo công thức NPV, xác định tỷ số lợi ích - chi phí (BCR) và tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR).
  • Lượng hóa môi trường: Áp dụng phương trình sinh khối của Võ Đại Hải (2008) với tỷ lệ sinh khối khô/tươi của Keo lai là 46,6% và Keo tai tượng là 58%; tính toán lượng hấp thụ CO2 thông qua hệ số chuyển đổi carbon 0,5 theo hướng dẫn của IPCC (2003) và nhân với tỷ lệ phân tử lượng 44/12.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra và phân tích thực địa tại tỉnh Quảng Ngãi đã làm rõ các đặc trưng cơ bản của các hệ canh tác nông lâm kết hợp:

Thứ nhất, hệ canh tác Lâm - Nông kết hợp chiếm vị trí chủ đạo tuyệt đối với tổng diện tích đạt trên 2.000 ha trên địa bàn toàn tỉnh. Trong đó, hai mô hình xuất hiện phổ biến nhất và có xu hướng mở rộng mạnh mẽ là Keo lai xen Sắn cao sản và Keo tai tượng xen Sắn cao sản, với quy mô diện tích canh tác trung bình dao động từ 1,5 đến 3,5 ha/hộ.

Thứ hai, mô hình nông lâm kết hợp đem lại hiệu quả tài chính và khả năng thu hồi vốn nhanh trong 1 đến 2 năm đầu chu kỳ. Việc tận dụng đất trống giữa hai hàng cây lâm nghiệp khi chưa khép tán để trồng sắn cao sản giúp nông hộ thu được năng suất củ tươi bình quân từ 18 đến 22 tấn/ha/năm. Nguồn thu này bù đắp ngay khoảng 60% đến 70% tổng chi phí đầu tư ban đầu của rừng trồng, đưa chỉ số sinh lời BCR của toàn chu kỳ kinh doanh 5-7 năm đạt mức 1,45 đến 1,82 và chỉ số IRR duy trì ở mức cao từ 21,5% đến 28,4%.

Thứ ba, hiệu quả xã hội và môi trường được ghi nhận ở mức rất tích cực. Mô hình giải quyết việc làm tại chỗ cho 80% đến 92,4% lao động nông nghiệp trong thời gian nông nhàn, đặc biệt tại huyện Tây Trà nơi đồng bào dân tộc Cor chiếm 84,6% dân số. Về mặt sinh thái, mô hình rừng keo từ năm thứ 3 trở đi tạo độ che phủ trên 75%, giúp giảm thiểu xói mòn rửa trôi đất dốc khoảng 45% so với canh tác nương rẫy truyền thống và tích lũy lượng hấp thụ khí nhà kính đạt từ 16,8 đến 24,5 tấn CO2/ha/năm ở tuổi khai thác.

                              SO SÁNH CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ CHỦ YẾU

Thảo luận kết quả

Hiệu quả kinh tế vượt trội của mô hình Keo xen Sắn bắt nguồn từ mối quan hệ tương hỗ sinh thái và phân chia không gian dinh dưỡng tối ưu. Trong 2 năm đầu, cây sắn hấp thụ dinh dưỡng tầng đất mặt và che phủ hạn chế cỏ dại cạnh tranh với cây lâm nghiệp. Đồng thời, quá trình làm đất, bón phân và làm cỏ cho sắn tạo điều kiện cho bộ rễ cây keo phát triển nhanh hơn, nâng cao tỷ lệ sống của rừng trồng lên trên 90%.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu tại các vùng sinh thái khác, kết quả tại Quảng Ngãi cho thấy sự tương đồng cao với nghiên cứu của Hoàng Văn Thắng và cộng sự tại Bắc Giang (Keo lai xen Sắn đạt lợi nhuận ròng 82 triệu đồng/ha) và nghiên cứu của Nguyễn Thị Chung tại Thanh Hóa (Keo xen Sắn đạt lợi nhuận bình quân 63 triệu đồng/ha). Tuy nhiên, tại Quảng Ngãi, chu kỳ kinh doanh cây keo thường ngắn hơn (khoảng 5 đến 6 năm do nguy cơ mưa bão ven biển), đòi hỏi việc xen canh cây nông nghiệp phải diễn ra quyết liệt ngay từ năm đầu tiên.

Các dữ liệu kinh tế - kỹ thuật trong nghiên cứu có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ phân bổ chi phí - doanh thu theo thời gian và bảng ma trận đánh giá hiệu quả tổng hợp Ect. Qua tính toán ma trận với 8 chỉ tiêu đánh giá, chỉ số Ect của mô hình Keo lai xen Sắn tại huyện Nghĩa Hành và Trà Bồng đạt giá trị 0,82 đến 0,87, cao hơn đáng kể so với mức 0,54 của phương thức canh tác thuần nông hoặc thuần lâm trên đất dốc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững các mô hình nông lâm kết hợp tại tỉnh Quảng Ngãi, các giải pháp đồng bộ cần được triển khai:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật canh tác dốc: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh ban hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trồng xen chuẩn, quy định mật độ Keo lai từ 1.660 đến 2.000 cây/ha (khoảng cách 3m x 2m hoặc 2,5m x 2m), bố trí 2 hàng sắn cao sản cách gốc cây keo tối thiểu 0,8m theo đường đồng mức. Giải pháp này đặt mục tiêu giảm 20% hiện tượng xói mòn đất và nâng cao 15% năng suất gỗ thương phẩm trong giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ hai, tái cấu trúc chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ: Ủy ban nhân dân các huyện Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành chủ trì thiết lập chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm giữa các hộ nông dân với Nhà máy Chế biến Tinh bột sắn Quảng Ngãi và các doanh nghiệp chế biến dăm gỗ xuất khẩu tại Khu kinh tế Dung Quất. Phấn đấu nâng tỷ lệ sản lượng tiêu thụ qua hợp đồng chính ngạch từ dưới 25% lên trên 70% vào năm 2020, hạn chế tình trạng tư thương ép giá.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tín dụng và giao đất lâm nghiệp: Ngân hàng Chính sách Xã hội cùng Sở Tài nguyên và Môi trường đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện miền núi. Đồng thời, giải ngân gói vay ưu đãi chu kỳ 5 năm với lãi suất ưu đãi dưới 6%/năm cho ít nhất 2.000 hộ gia đình tham gia chuyển đổi sang mô hình nông lâm kết hợp bền vững trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, nghiên cứu thử nghiệm đa dạng hóa tập đoàn cây trồng xen: Viện Nghiên cứu Lâm sinh và Trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với chính quyền địa phương triển khai các mô hình khảo nghiệm trồng xen cây dược liệu có giá trị kinh tế cao (như Ba kích, Sa nhân tím, Cốt khí) dưới tán rừng Keo tai tượng và Quế tại Trà Bồng và Tây Trà, nhằm tăng giá trị thu nhập ròng trên 1 ha đất lâm nghiệp thêm 30 - 40 triệu đồng/năm từ sau năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Cán bộ quản lý quy hoạch nông lâm nghiệp và khuyến nông: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và phương pháp đánh giá Ect để xây dựng quy hoạch phân vùng sinh thái, thiết lập các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn tại các địa bàn đồi núi có điều kiện tương đồng.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Nông nghiệp và Quản lý tài nguyên: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp giữa phân tích tài chính động CBA và mô hình định lượng sinh khối, hấp thụ carbon theo tiêu chuẩn quốc tế IPCC trong nghiên cứu hệ sinh thái nhân tạo.

Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ phát triển (ICRAF, FAO, các dự án thích ứng biến đổi khí hậu): Khai thác dữ liệu thực tế tại miền Trung Việt Nam để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế nông nghiệp bền vững, xóa đói giảm nghèo gắn liền với bảo tồn tài nguyên đất và rừng.

Chủ trang trại, chủ rừng và các hộ gia đình sản xuất nông lâm nghiệp: Nắm bắt các thông số kỹ thuật về mật độ trồng, chi phí suất đầu tư, phương án dòng tiền lấy ngắn nuôi dài và kỹ thuật phòng ngừa xói mòn đất dốc để tối ưu hóa lợi nhuận kinh tế hộ.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình nông lâm kết hợp nào chiếm ưu thế lớn nhất tại tỉnh Quảng Ngãi? Mô hình Keo lai hoặc Keo tai tượng trồng xen Sắn cao sản là mô hình phổ biến nhất với quy mô trên 2.000 ha phân bố tại hầu hết các huyện, diện tích canh tác trung bình từ 1,5 đến 3,5 ha/hộ.

Việc trồng xen cây sắn trong 1-2 năm đầu có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của cây keo không? Nếu đảm bảo khoảng cách trồng sắn cách gốc keo tối thiểu 0,8m theo đường đồng mức, cây sắn không cạnh tranh dinh dưỡng mà còn hỗ trợ giữ ẩm đất, giảm công làm cỏ và nâng cao tỷ lệ sống của cây keo lên trên 90%.

Chỉ số hiệu quả tổng hợp Ect được tính toán dựa trên những khía cạnh nào? Chỉ số Ect được xây dựng dựa trên phương pháp của Walfredo Raquel Rola (1994), tích hợp đa tiêu chí gồm 3 trụ cột: hiệu quả kinh tế (NPV, BCR, IRR), hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm, khả năng nhân rộng) và hiệu quả môi trường (che phủ, hấp thụ carbon).

Khả năng hấp thụ khí nhà kính CO2 của mô hình Keo xen cây nông nghiệp được ước tính ra sao? Dựa trên sinh khối khô quy đổi (tỷ lệ khô/tươi 46,6% ở Keo lai và 58% ở Keo tai tượng) và hệ số carbon 0,5 của IPCC, rừng trồng keo xen canh tại Quảng Ngãi có khả năng tích lũy hấp thụ bình quân 16,8 đến 24,5 tấn CO2/ha/năm ở tuổi khai thác.

Rào cản lớn nhất đối với việc mở rộng mô hình tại các huyện miền núi như Tây Trà và Trà Bồng là gì? Khó khăn lớn nhất nằm ở mạng lưới giao thông vận chuyển hạn chế, địa hình chia cắt mạnh, thị trường tiêu thụ nông sản phụ thuộc vào tư thương và nguồn vốn đầu tư ban đầu của các hộ nghèo (chiếm tới 56,78% tại Tây Trà) còn rất hạn hẹp.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định và đánh giá toàn diện hệ canh tác Lâm - Nông kết hợp với hai mô hình trọng điểm là Keo lai xen Sắn và Keo tai tượng xen Sắn trên quy mô hơn 2.000 ha tại Quảng Ngãi.
  • Chứng minh tính ưu việt của phương thức canh tác lấy ngắn nuôi dài, giúp nông hộ thu hồi 60% - 70% vốn đầu tư ngay trong 2 năm đầu và đạt chỉ số tài chính BCR từ 1,45 đến 1,82.
  • Lượng hóa thành công đóng góp môi trường với độ che phủ đạt trên 75% và khả năng hấp thụ khí nhà kính đạt tới 24,5 tấn CO2/ha/năm.
  • Đóng góp bộ dữ liệu thực chứng và phương pháp đánh giá Ect chuẩn xác làm căn cứ khoa học cho quy hoạch nông lâm nghiệp bền vững tại vùng duyên hải miền Trung.
  • Lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2016 - 2020 cần tập trung vào việc hoàn thiện chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm và thử nghiệm các loài dược liệu dưới tán rừng.

Các nhà quản lý, nhà khoa học và người dân quan tâm có thể khai thác các luận cứ chuyên sâu trong công trình này để ứng dụng vào thực tiễn quy hoạch và sản xuất nông lâm nghiệp sinh thái.