CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu chung Trong một số kết cau xây dựng, cáp đóng vai trò kết cau chịu lực quan trọng. Khả năng chịu lực của cáp cường độ cao tốt hơn nhiều so với thép sử dụng trong kết cau thép thông thường. Cường độ tới han của các sợi cáp kéo nguội đường kính 5- 7mm có thé dat tới 1600 MPa, trong khi thép thông thường chỉ đạt tới cường độ tới hạn 350-500 MPa. Do đó việc tính toán lực căng cáp dựa vào tần số dao động đang là hướng nghiên cứu đang được quan tâm.
Trên thế giới và ở Việt Nam, nhiều phương pháp kỹ thuật khác nhau đã được sử dụng để đánh giá lực căng trong dây cáp trong quá trình thi công cũng như khai thác. Có thé kế đến các phương pháp điển hình như kiểm tra áp lực trong kích thủy lực, sử dụng đầu đo lực, quan trắc biến dạng, xác định độ dan dài của đường cap trong quá trình lắp đặt và căng kéo (hình 1. Các phương pháp này mặc dù việc mô tả là rất đơn giản tuy nhiên ứng dụng thực tế thường khó đạt hiệu quả mong muốn về mặt giá thành, tính chính xác cũng như khả năng áp dụng. Thiết bị đo lực căng cáp Model Quick Balance Tuy nhiên có một phương pháp đơn giản, nhanh chóng và không quá đắt tiền là phương pháp ứng dụng lý thuyết dây rung băng cách xác định lực căng trong dây văng thông qua tần số dao động riêng, trọng lượng riêng đơn vi va chiều dài thực tế của bó cáp (hình 1.
Phương pháp này đã được ứng dụng rất thành công và thể hiện tính hiệu quả trên thế giới cho các cầu dây văng [8]. Đề ứng dụng được lý thuyết dây rung trong tính toán lực căng trong dây cáp với độ chính xác cao nhất, kết quả đo đạc phải đảm bảo sự tuyến tính giữa các mode dao động va tần số dao động riêng. Đề đạt được điều này, cần một số giả thuyết như sau: > Mémen uốn trong cáp phải được coi là nhỏ và có thé bỏ qua. > Không có các chuyền vị tương đối giữa đầu neo và cáp tại vị trí neo cap.
> Cáp có độ dan dai nhỏ. Các biến dạng của mode đối xứng không làm tăng lực căng trong cap. Vì vậy việc xác định tần số dao động riêng từ mô hình phan tử hữu hạn (PTHH) chính xác là cần thiết cho việc phát hiện các hư hong, theo dõi sự làm việc va kiểm soát kết cầu. Tuy nhiên, đối với các kết cấu phức tạp, không phải dé dang để tạo ra các mô hình PTHH chính xác dé có thé theo dõi sự làm việc.
Do đó tồn tại một van dé quan trong là làm thé nào dé hiệu chỉnh mô hình PTHH để việc phân tích số các thông số kết cau phù hợp với kết quả thực nghiệm.2 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Kỹ thuật hiệu chỉnh mô hình PTHH đã được phát triển cùng với những nghiên cứu đã được công bố trên thé giới. (2000) bài báo này trình bày quy trình hiệu chỉnh một mô hình PTHH áp dụng đối với các kết cau phức tạp bang cách sử dụng phương pháp độ nhạy. Mục tiêu của việc hiệu chỉnh mô hình là nhằm giảm chênh lệch giữa giá trị tính toán và giá trị đo được của tần số [35]. Ho Duc-Duy, Jeong-Tae Kim, Norris Stubbs and Woo-Sun Park (2012) đưa ra một phương pháp đánh giá lực ứng suất trước trong một dim BTCT ứng suất trước băng cách sử dụng các đặc trưng dao động và phương pháp nhận dạng.
Phương pháp này sử dụng thuật toán độ nhạy để hiệu chỉnh các thông số trong mô hình PTHH [6].2 Tình hình nghiên cứu trong nước Phương pháp hiệu chỉnh mô hình PTHH khá ít nghiên cứu trong nước đề cập đến. Tuy nhiên, những nghiên cứu sau đây đã dé cập đến những van dé quan trọng trong luận văn: Châu Khắc Anh Sơn (2005). Phân tích độ nhạy bài toán điều khiến kết cấu [4]. Phân tích tính toán điều chỉnh nội lực cầu đây văng [14].
Nghiên cứu các trạng thái làm việc của phần tử dây mềm ứng dụng cho mô hình phan tử cáp trong cau dây văng [15]. Nguyễn Hữu Thuần (2005). Tính toán & thiết kế cầu treo dây văng [20].3 Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng phương pháp hiệu chỉnh mồ hình PTHH sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy cho dây cáp dựa vào sự thay đối các đặc trưng dao động, nhằm mục đích đưa ra phương pháp đánh giá lực căng cáp. Nội dung cụ thé bao gồm: > Thiết lập biểu thức mối quan hệ lực căng cáp và tần số đao động tự nhiên dây cáp; > Xây dựng mô hình PTHH ban dau dây cáp bang phần mềm SAP2000, phân tích đao động ta có các tần số f,, fo.f,: > So sánh kết qua tần số tự nhiên f, giữa mô hình PTHH và kết quả thực nghiệm f, Băng phương pháp phân tích độ nhạy, ta sẽ hiệu chỉnh mô hình PTHH gần đúng với kết quả thực nghiệm f, ~ Í.: > Tính toán lực căng cáp T, từ tần số tự nhiên f,, so sánh với kết quả thực nghiệm T.
Đánh giá sự biến thiên của lực căng cáp và mô dun đàn hồi của dây cáp theo tần số dao động: > Rút ra kết luận về những công việc đã thực hiện. Nêu lên những hướng phát triển dé tai trong tương lai.4 Cấu trúc luận văn Chương | giới thiệu tông quan về cáp, và các phương pháp đánh giá lực căng cáp. tình hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cũng như mục tiêu và hướng nghiên cứu của đê tài. Chương 2 trình bày các đặc tính của cáp và ứng dụng của nó, lý thuyết tính toán lực căng cáp từ tần số dao động, Phương pháp độ nhạy để hiệu chỉnh mô hình PTHH.
Chương 3 trình bày hai ví dụ là cầu Hwamyung ở Hàn Quốc và cầu Phú Mỹ ở Việt Nam được mô phỏng bằng phần mềm SAP2000, sau đó được hiệu chỉnh nhờ phương pháp phân tích độ nhạy. Kết quả số sẽ được so sánh với kết qua thực nghiệm đã được công bố. Chương 4 đưa ra một số kết luận quan trọng đạt được trong luận văn và kiến nghị hướng phát triển của đề tài trong tương lai. Tài liệu tham khảo: Trích dẫn các tài liệu liên quan phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đê tài.
CƠ SỞ LY THUYET 2.1 Dac tính cúa dây cáp và ứng dung Dây cáp được chế tạo từ thép có độ cứng cao, hình dáng và chức năng rất đa dạng.Các loại cáp dùng cho dây văng là thanh thép song song, sợi song song, fao song song, tao xoán và lõi cáp. ® «®e 4 sưng Thanh song song - Sợi song song - Tao song song ----- Tao xoắn --------- Dây cáp Hình 2. các loại cáp Trong các loại trên mô dun đàn hồi giảm từ khoảng 200,000 MPa đối với 3 loại đầu xuống 150,000 MPa đối với dây cáp. Cùng kích thước, tao cáp có cường độ kéo đứt lớn hon dây cáp.
Mô đun đàn hồi của tao cáp cao hon dây cáp. Nhung tao cáp có ít khả năng uốn cong hơn dây cáp. Cáp băng thép cường độ cao có cường độ rất lớn, nhưng lại rất mém dẻo. Các tao cáp lớn được mạ nhúng hoặc sơn bảo vệ.
Trong những năm 70, một công nghệ mới được phát triển sử dụng các sợi (thông thường có đường kính 7 mm) hoặc các tao (đường kính 15 mm) song song, được bơm vita xi măng xen kẽ, boc trong lớp vỏ làm bằng Polyethylene mật độ cao (HDPE). Giải pháp này cũng tồn tại một số nhược điểm: đôi khi cho sức kháng mỏi của dây khá thấp, và chủ yếu là các van dé đứt gãy do ăn mòn. Vita xi măng đôi khi được thay thé băng sáp dau (vi dụ như ở các cầu Tampico và cau Iroise), hoặc với một số trường hợp khác thì bang nhựa epoxy (tao bọc nhựa epoxy, vi dụ như cau qua sông Ibi và Kiso). Tuy nhiên hiện nay đã phát triển hai hệ thống hiện đại cạnh tranh trực tiếp với nhau.
Hệ thống thứ nhất đưa ra đầu tiên bởi công ty Freyssinet từ cuối những năm 1980, theo đó các dây cáp chế tạo từ các tao song song được bảo vệ độc lập: tao 7 soi, tat cả các sợi được mạ kẽm nhúng nóng và được kéo trước, với lớp bọc ngoài bang HDPE. Các tao 15 mm bọc bởi một ống nhựa bao ngoài, chủ yếu vì các lý do liên quan đến khí động học. Giải pháp này được gọi là hệ thống tao song song (Parallel Strand System - PSS), trong thực tế có thé tồn tại cùng với một số cải tiến khác. Trong hệ thống thứ hai, được gọi là hệ thống sợi song song (Parallel Wire System — PWS), dây cáp được cau tao tir cdc soi ma kém song song (các sợi có thể được xoăn nhẹ dé giữ 6n định), được bảo vệ bởi một lớp HDPE dày bao ngoài.
Giải pháp này được dé ra từ hệ thống BBR Hi-Am phát minh trước đây đã lâu. Ở phương Tây: Châu Âu và Mỹ, thực tế tất cả các dây cáp chế tạo gần đây đều thuộc hệ thống PSS, còn hệ thông PWS được phát triển rất mạnh ở Nhật Bản va Trung Quốc. Các loại cap hiện đại đều được bọc trong vỏ (hay đặt trong ống), được xử lý về hình dạng để làm giảm nguy cơ dao động dây do tác nhân mưa và gió. Dây cáp loại PSS tuân theo các tiêu chuẩn hiện hành — Kiến nghị của Pháp (CIP), kiến nghị fib và kiến nghị của Mỹ (PTT) đều có khả năng chống ăn mòn tốt.
Tuyệt đối không được tôn tại lỗ rỗng trong tao đơn. Các sợi thép được bảo vệ băng hai lớp bảo vệ hỗ trợ lẫn nhau: lớp mạ nhúng nóng và lớp vỏ bằng HPDE. Toàn bộ khoảng rỗng giữa các sợi cáp, khoảng rỗng giữa các sợi cáp và ông HDPE đều được lấp day bang sáp dau dé tránh nước chảy vào bên trong tao cáp thông qua những kẽ hở ở lớp vỏ HDPE. Tiêu chuẩn này bắt nguồn từ một yêu cau trong khoảng 1989 - 1990 đối với dây văng của cầu Normandie.
Khi cho rằng các lỗ rỗng giữa các sợi thép có thể sẽ dẫn nước vào trong dây trong trường hợp xuất hiện khe hở trong vỏ HDPE hoặc do bất kỳ nguyên nhân nào đó. Công ty Freyssinet (Pierre Jartoux) đã phát triển một kỹ thuật cho phép lap day lỗ rỗng băng sáp dau, và các chỉ dẫn kỹ thuật tương ứng đã liên tục được đưa vào trong các tiêu chuẩn của Pháp và quốc tế (fib và PTD.