CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU GPS (GLOBAL POSITIONING SYSTEM) 1.1 Tổng quan về hệ thống GPS: Hình1.1 Vệ tinh GPS bay trên quỹ đạo không gian xung quanh Trái Đất Hệ thống định vị toàn cầu GPS là hệ thống xác định vị trí dựa trên vị trí của các vệ tinh nhân tạo, do Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý. Trong cùng một thời điểm, tọa độ của một điểm trên mặt đất sẽ được xác định nếu xác định được khoảng cách từ điểm đó đến ít nhất 3 vệ tinh. Tuy được quản lý bởi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, sau nàychính phủ Hoa Kỳ cho phép mọi người trên thế giới bất kể quốc tịch nào sử dụng một số chức năng của GPS miễn phí. Ứng dụng quan trọng nhất của GPS là định vị và điều hướng.
Ban đầu GPS được thiết kế và xây dựng cho mục đích quân sự nhưng sau vài thập niên phát triển, hiện nay công nghệ GPS trở nên rất phổ biến và được ứng dụng rộng rãi trong cả những lĩnh vực dân sự như: hàng không, đường biển và đường bộ, xác định quỹ đạo vệ tinh ở tầng thấp, định vị robot. Ngoài ra GPS còn hữu ích trong các ứng dụng thường ngày như: tìm đường, dự báo thời thiết, cứu nạn, nghiên cứu và giáo dục… Nhóm SVTH Page 16 Đề tài NCKHSV 1.2 Vài nét về lịch sử phát triển của hệ thống GPS: Từ những năm 60 của thế kỷ XX, cơ quan Hàng Không và Vũ Trụ (NASA) cùng với Quân đội Hoa Kỳ đã tiến hành nghiên cứu, phát triển hệ thống dẫn đường và định vị chính xác bằng vệ tinh nhân tạo. Hệ thống định vị dẫn đường bằng vệ tinh thế hệ đầu tiên là hệ thống TRANSIT có 6 vệ tinh, hoạt động theo nguyên lý Doppler, được sử dụng trong thương mại vào năm 1967. Sau hệ thống TRANSIT, hệ thống định vị vệ tinh thế hệ thứ hai ra đời có tên là NAVSTAR-GPS (Navigtion Satellite Timing And Ranging – Global Positioning System) gọi tắt là GPS.
Hệ thống này ban đầu gồm 24 vệ tinh triển khai trên 6 quỹ đạo nghiêng 550 so với mặt phẳng xích đạo trái đất với chu kỳ 11giờ 57phút 58giây ở độ cao xấp xỉ 20. So với hệ thống TRANSIT, độ chính xác định vị bằng hệ thống này được nâng cao, thời gian quan trắc vệ tinh được rút ngắn.Cho đến nay đã có 32 vệ tinh của hệ thống GPS đang hoạt động trên quỹ đạo. Song song với phương pháp định vị dẫn đường gần như tương tự với hệ thống GPS của Mỹ, còn có hệ thống GLONASS của Nga (nhưng không thương mại hóa rộng rãi) và một hệ thống tương lai sẽ cạnh tranh thị trường với hệ thống GPS là hệ thống GALILEO của Châu Âu. Ở Việt Nam, phương pháp định vị sử dụng vệ tinh đã được ứng dụng từ những năm đầu thập kỷ 90.
Những năm sau đó công nghệ GPS đã đóng vai trò quyết định trong việc lập hệ quy chiếu quốc gia mới cũng như việc lập lưới địa chính cơ sở phủ trùm lãnh thổ và nhiều lưới khống chế cho các công trình dân dụng khác.3 Cấu trúc hệ thống GPS: Hệ thống định vị toàn cầu GPS gồm 3 phần: Phần không gian (Space Segment) Phần điều khiển (Control Segment) Phần người sử dụng (Use Segment) Nhóm SVTH Page 17 Đề tài NCKHSV Hình 1.2 Cấu trúc hệ thống GPS 1.1 Phần không gian (Space Segment): Gồm 24 vệ tinh quay xung quanh trái đất với 6 quỹ đạo bay. Các vệ tinh này hoạt động ở độ cao 20.200 km ở góc nghiêng 550 so với mặt phẳng xác đạo Trái Đất với chu kỳ quay 11giờ 57phút 58giây. Quỹ đạo bay trong không gian của các vệ tinh được sắp xếp để tối thiểu 4 vệ tinh sẽ được bộ phận người dùng nhìn thấy và bao phủ toàn cầu với vị trí hoàn toàn chính xác của 6 vệ tinh hoặc ít hơn. Nhóm SVTH Page 18 Đề tài NCKHSV Hình 1.3 Quỹ đạo không gian của các vệ tinh GPS Mỗi vệ tinh truyền trên 2 dải tần số L.
Tuy nhiên, tín hiệu mỗi vệ tinh thay đổi theo thời gian đến người sử dụng • L1 có tần số 1575.6 MHz: chỉ mang mã P (Precise code). Mã C/A: Một đoạn mã C/A hoàn chỉnh là một chuỗi bao gồm 1023 số nhị phân (0 và 1), hay 1023 chip, được sắp xếp theo một quy luật tựa ngẫu nhiên, mã có chiều dài 1ms, tương ứng với tần số 1. Mã này được điều biến trên sóng tải L1 và được phát quảng bá tới mọi máy thu GPS. Chức năng chính của mã này là để máy thu dò tìm, phát hiện tín hiệu của các vệ tinh.
Để máy thu có thể phân biệt các vệ tinh, mỗi vệ tinh được gán bởi một mã C/A nhất định và dựa trên cơ sở so sánh với những bản sao của mã C/A được tạo ra trong máy thu. Mã P là mã giả lập nhiễu ngẫu nhiên với xung nhịp đồng hồ 10. Mỗi vệ tinh có một mã P duy nhất và được sử dụng cho mục đích quân sự để không cho phép các người sử dụng khác sử dụng hoàn toàn độ chính xác của tín hiệu GPS. Nhóm SVTH Page 19 Đề tài NCKHSV 1.2 Phần điều khiển (Control Segment): Bộ phận điều khiển gồm toàn bộ thiết bị trên mặt đất được sử dụng để giám sátvà điều khiển các vệ tinh.
Bộ phận này thường người sử dụng không nhìn thấy, nhưngđây là bộ phận quan trọng của hệ thống GPS. Bộ phận điều khiển NAVSTAR, đượcgọi là hệ thống điều khiển hoạt động OCS (Operational Control System) gồm các trạmgiám sát, một trạm điều khiển chính MCS (Master Control Station) và anten quay. Có 5 trạm giám sát thụ động, toạ lạc ở Colorado Springs, Hawaii, đảo Ascencion, Diego Garcia và Kwajalein. Các trạm giám sát gởi dữ liệu thô về trạm MSC để xử lý.
Trạm MCS được toạ lạc ở Falcon Air Force Base, cách 12 dặm về phía đông của Springs, Colorado và được Mỹ quản lý. Trạm MCS nhận dữ liệu từ trạm giám sát trong thời gian 24 giờ/ngày và sử dụng thông tin này để xác định nếu các vệ tinh đang khoá hoặc lịch thiên văn thay đổi và để phát hiện thiết bị trục trặc. Thông tin về giám sát di chuyển lịch thiên văn được tính toán từ tín hiệu giám sát và chuyển đến vệ tinh một lần hoặc hai lần/ngày.4 Các trạm điều khiển mặt đất Nhóm SVTH Page 20 Đề tài NCKHSV Thông tin tính toán bởi trạm MCS, cùng với các mệnh lệnh duy trì thường xuyên được truyền bởi anten xoay trên mặt đất. Anten này toạ lạc tại đảo Ascencion, Diego Garciavà Kwajalein.
Anten có đủ phương tiện để truyền đến vệ tinh theo đường liên kết sóngvô tuyến dải tần SHF.3 Phần người sử dụng (Use Segment): Bộ phận người sử dụng thực ra là thiết bị thu tín hiệu GPS. Thiết bị thu tín hiệu GPS là một máy thu tín hiệu sóng vô tuyến đặc biệt. Nó được thiết kế để thu tín hiệu sóng vô tuyến được truyền từ các vệ tinh và tính toán vị trí dựa trên thông tin đó. Thiết bị thu tin hiệu GPS có nhiều kích cỡ khác nhau, hình dáng và giá cả khác nhau.
Tính chất và giá cả của các thiết bị thu tín hiệu GPS nói chung lệ thuộc vào chức năng mà bộ phận thu nhận tín hiệu GPS. Bộ phận thu nhận dùng cho ngành hàng hải vàhàng không thường sử dụng cho tính năng giao diện với thẻ nhớ chứa bản đồ đi biển. Bộ phận thu nhận dùng cho bản đồ số có khả năng chính xác rất cao và có giao diện ngườisử dụng cho phép ghi nhận dữ liệu nhanh chóng.4 Các trị đo của hệ thống GPS: Các máy thu GPS cung cấp các trị đo là khoảng cách từ máy thu đến vệ tinh. Bao gồm hai loại sau: • Giả cự ly (pseudo-range): là trị đo dựa trên nguyên tắc đo xung với xung là mã P hay mã C/A.
Đặc điểm của trị đo này là độ chính xác thấp (0.3 m cho mã P và 3m cho C/A) nhưng nó thể hiện trực tiếp khoảng cách hình học từ máy thu đến vệ tinh. Vì mã đo khoảng cách P được truyền trên hai tần số L1 và L2 nên tương ứng cho hai trị đo P1 và P2. Trong khi đó mã C/A chỉ hiện diện trên L1 nên chỉ có trị đo duy nhất C1. • Trị đo pha: bước sóng của các sóng mang rất ngắn – xấp xỉ 19cm cho L1 và 24 cm cho L2.
Giả sử rằng độ phân giải của trị đo khoảng 1-2% bước sóng thì pha sóng mang có thể được đo đến mức độ mm. Không may mắn là trị đo này vẫn còn thiếu số nguyên chu kỳ pha để có thể chuyển thành khoảng cách từ máy thu đến vệ Nhóm SVTH Page 21 Đề tài NCKHSV tinh. Vì vậy để xử lý trị đo này cần có những phần mềm chuyên dụng cho mục đích trắc địa. Các trị đo trên không chỉ chứa sai số đo của máy thu vì khi tín hiệu đi từ vệ tinh đến máy thu nó bị ảnh hưởng nặng nề do đồng hồ của vệ tinh và máy thu bị sai, tín hiệu bị trễ ở tầng điện ly, đường lan truyền của tín hiệu trong khí quyển bị bẻ cong do chiết suất của không khí không đều, … Ảnh hưởng tổng hợp của những nguồn sai số này có thể làm cho các trị đo sai đến hàng trăm km.
Vì vậy để đòi hỏi độ chính xác định cỡ vài chục mét, những nguồn sai số phải được khắc phục và loại trừ trong xử lý.5 Một số nguồn sai số ảnh hưởng đến độ chính xác GPS 1.5 Nguyên lý định vị GPS: Dựa trên cơ sở hình học, nếu ta biết được khoảng cách và toạ độ của ít nhất 4 điểm đến 1 điểm bất kỳ thì vị trí của điểm đó có thể xác định được một cách chính xác. Giả sử rằng khoảng cách từ máy thu đến vệ tinh thứ nhất là d1, điều ấy có nghĩa là máy thu nằm ở đâu đó trên mặt cầu có tâm là vệ tinh thứ nhất và bán kính mặt cầu đó là d1. Tương tự nếu ta biết khoảng cách từ máy thu đến vệ tinh thứ 2 là d2 thì vị trí máy thu được xác định nằm trên đường tròn giao tiếp của hai mặt cầu đó. Nếu biết được khoảng cách từ máy thu đến vệ tinh thứ 3 thì ta có thể xác định được vị trí máy thu là giao của đường tròn trên với mặt cầu thứ 3( được 2 điểm – 1 điểm ở Trái Đất và 1 điểm ở ngoài không gian).
Trong 2 giao điểm đó có một giao điểm được loại bỏ bằng phương pháp nội suy.