Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tống quan về bệnh đạo ôn trên cây lúa 1. Tác nhân gay bệnh Tác nhân gây bệnh đạo ôn trên cây lúa là do nam Pyricularia oryzae hay Pyricularia grisea. O : giai đoạn sinh sản vô tính, nam gây bệnh đạo ôn aN ky có tên là Pyricularia oryzae, thuộc họ nam bông ;‹—« Moniliacaae, bộ Moniliales, lớp Hyphomycetes, ngành phụ nấm bất toàn Deuteromycotina (Barnett và Hunter, 1998).
Ở giai đoạn sinh sản hữu tính nấm gây bệnh đạo ôn có tên là T1 /27#ndenoe Magnaporthe grisea; ngành Ascomycota, lớp // Sordariomycetidae (Pyrenomycetes), lớp Phụ nh 1.1: Nám Pyricularia oryzae Sordariomycetidae (Hymenoascomycetes), bộ (Nguôn: Zeigler và cs., 1994) Diaporthales, ho Magnaporthaceae (Jeon va cs, 2007). Khi cây lúa bị nhiễm bệnh, tat cả các mô lá có thé bị nam tân công, đặc biệt là khi bệnh gây hại trên bông có thé dẫn đến mat năng suất. Thiệt hại trung bình khoảng 20 — 60%, ở những vùng bị nhiễm nặng có thé mắt hoàn toàn năng suất (Jeon va cs, 2007). Đặc điểm sinh học, sinh thái và sự phát sinh bệnh đạo ôn hại lúa Đặc điểm sinh học Cấu tạo: Nam Pyricularia oryzae phân sinh bào tử thành từng chùm trên đầu cành bào tử.
Bào tử màu xanh xám nhạt, hình quả lê, có một đầu thon hẹp, thường có 2 vách ngăn, một số trường hợp hơi thắt lại ở chỗ vách ngăn. Bào tử thường nảy mầm ở tế bào đỉnh hoặc sốc, tạo thành các vòi bám xâm nhập vào tế bào cây ký chủ (Phạm Văn Biên va cs, 2003). Bao tử phân sinh có hình quả lê, 2 vách ngăn ngang, có khi 1 — 3 vách ngăn, không có mau hay có màu xanh nhạt, 19 — 23 um. Bao tử thường nảy mamở tế bao dau hay gốc và tạo đĩa bám.
Trong mỗi tế bào của khuẩn ty hay bao tử có thể có một hay nhiều nhân, đa số là đơn nhân và chứa 2 — 6 nhiễm sắc thể. Quả nang bầu có thê tạo đơn hay thành cụm, mọc chìm trong mô cây, ngọn nhô ra khỏi mặt mô, có màu nâu sậm đến đen, đường kính phần chân của quả nang từ 30 — 600 um (trung bình 180 im), có các gai đệm dài bên trong. Nang hình trụ, vách day, 8. Nang bao tử trong suốt, hình liém, 3 vách ngăn, 5x21 wm (Vũ Triệu Man và Lương Minh Té, 2001).
Theo Ou (1985) ghi nhận bào tử phân sinh hình quả lê hoặc hình nụ sen, thường có 2 vách ngăn ngang, có khi 1 vách hoặc 3 vách, trong suốt có màu xanh nhạt, kích thước trung bình của bao tử nắm 19 - 23 x 10 - 12 um, cành bào tử phân sinh hình trụ, đa bào không phân nhánh, đầu cành thon. Nắm thường sinh ra các cụm cảnh từ 3 — 5 chiếc, bào tử thường nảy mầm ở tế bào đầu hay gốc và tạo đĩa bám. Kích thước bảo tử thay đổi tùy theo chủng nắm và điều kiện môi trường. Hình thức sinh sản: Nam phát trién trong khoảng nhiệt độ từ 8 — 37°C.
Ở 28°C nam sản sinh bao tử nhanh nhưng giảm di sau 9 ngày, còn ở nhiệt độ 20 - 24°C sau 15 ngày sản sinh bào tử duy trì xu hướng tăng. Sự giải phóng bảo tử khỏi cảnh không bị anh hưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 15 — 35°C. Bao tử bị chết trong nước nóng 50°C từ 13 — 15 phút, nhưng ở điều kiện khô một số bao tử sống sót ở nhiệt độ 60°C trong 30 giờ. Bao tử nảy man tốt nhất ở 25 - 30°C, dưới 15°C bào tử nảy mam rat it (Phạm Văn Biên và cs, 2003).
Pham vi ký chủ: Nam Pyricularia oryzae ngoài gây bệnh đạo ôn cho lúa còn gây bệnh cho nhiều cây trồng và cây dại khác thuộc họ Hòa bản (Graminae), họ Ging (Zingiberaceae), họ Ngai hoa (Canaceae), họ Chuối (Musaceae) và họ Lác (Cyperaceae). Một số nam trên các cây đó cũng gây bệnh cho lúa (Phạm Văn Biên va cs, 2003). Đặc điễm sinh thái Điều kiện môi trường rất quan trọng đối với quá trình phát sinh phát triển bệnh. Bệnh đạo ôn xảy ra với các cường độ khác nhau, tùy thuộc vao điều kiện khí hậu.
Tại các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới, cũng như các khu vực có hệ thống tưới tiêu trong các hệ sinh thái ôn đới thì bệnh đạo ôn dé bùng phát. Nam phát triển tốt trong nhiệt độ từ 24 — 28°C, âm độ cao >80%. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm cao sẽ dé phát sinh thành dịch (Phạm Văn Kim, 2000). Bao tử nắm bệnh có kích thước rất nhỏ, không thể thấy được bằng mắt thường, hiện diện rất nhiều trong không khí, theo gió bay đi khắp nơi làm lây lan bệnh (Lê Thị Sen và Phạm Văn Kim, 1993).
Sự phát sinh bệnh đạo ôn hại lua Theo Wilson và Talbot (2009), sự xâm nhiễm bat đầu khi bào tử nắm tiếp xúc và bám chặt trên biểu bì mặt lá lúa. Lúa còn nhỏ, mô non nhạy cảm với sự xâm nhiễm hơn so với cây trưởng thành và mô già. Thời gian nảy mầm khoảng 30 phút, đĩa áp hình thành trong khoảng 4-8 giờ và vòi xâm nhiễm hình thành khoảng 24 giờ sau khi tiếp xúc với bề mặt ký chủ. Sau xâm nhiễm, khuẩn ty phân nhánh trong mô bệnh và di chuyền trong mô theo cầu liên bào.
Vết bệnh xuất hiện vào khoảng 72-96 giờ sau khi xâm nhiễm. Bao tử nảy mam khi có lớp nước tự do hay 4m độ không khí bão hòa, tôi ưu ở nhiệt độ 26-28°C. Nam sinh bào tử và khuẩn ty tốt nhất ở 28°C, âm độ không khí tương đối > 93%. Một vết bệnh điển hình có thé sinh 2.000 bảo tử/ngày, trong thời gian 14 ngày, cao điểm ở ngày thứ 3-8 từ khi lộ vết bệnh (Ou, 1985).
Sự xâm nhiễm của nam Pyricularia oryzae gây bệnh 1. Cơ chế xâm nhiễm Vết bệnh | Phan té bao = L sẽ tiêu biến ¬ Giác bám igi nấm Thành soi = -TB nấm tâm nhiềm xâm nhiễm. : Chốt xâm nhiễm Hình 1.2: So đồ sự quá trình xâm nhiễm của nắm Pyricularia oryzae gây hại trên cây lúa (Hà Thị Loan, 2018). Quá trình gây bệnh được bắt đầu từ những bao tử lơ lửng trong không khí và rơi trên mô lá.
Sau đó bào tử nảy mầm hình thành các vòi bám và tản nấm đâm xuyên qua các biểu bì lá hoặc qua khí không. Sau khi tản nắm xâm nhập vào cây 4-5 ngày ở nhiệt độ 26-28°C thì hình thành vết bệnh, thời gian tiềm sinh bệnh kéo dài hon trong điều kiện nhiệt độ thấp (6-9 ngày ở nhiệt độ 18-24°C). Sự hình thành bào tử dat đỉnh từ 3 đến 8 ngày sau khi xuất hiện vết bệnh trên lá. Độ âm tương đối dưới 93% không sản sinh bào tử (Cruz và cs, 2016).
Triệu chứng bệnh trên lá Vết bệnh trên lá mạ lúc đầu hình bầu dục nhỏ màu xám xanh nhạt, sau đó tạo thành hình thoi nhỏ hoặc dạng tương tự hình thoi, màu nâu hồng hoặc nâu vàng. Khi bệnh nặng, xuất hiện nhiều vết bệnh kế tiếp nhau làm cây mạ có thể héo khô hoặc chết (Luong Minh Tê và Vũ Triệu Man, 1998). Đặc điểm vết bệnh thay đổi theo tuổi cây, điều kiện thời tiết và tính nhiễm của giống (Ou, 1985). Trên lá trưởng thành vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu xanh xám nhạt.
Về sau vết bệnh lớn dan lên có hình thoi hai đầu nhọn doc theo gân lá, giữa bạc trang, xung quanh viền nâu, ngoài có quang vàng hẹp (Phạm Văn Biên va cs, 2003). Theo Võ Thị Thu Oanh (2011), vết bệnh lúc đầu nhỏ hình kim có màu nâu, sau phát triển thành vét bệnh điền hình có dạng hình mắt én, hai đầu hẹp, giữa phình ra có màu xám tro, mỗi vết bệnh phát tán 2.000 bào tử/đêm. Trên các giống nhiễm, vết bệnh ban đầu chỉ là đốm úng nước, nhỏ, màu xám xanh. Vết bệnh sau đó lan ra, tạo vết hình mắt én, hai đầu hơi nhọn, tâm xám trắng, viền nâu hay viền đỏ.
Nếu trời âm và giống có tính nhiễm cao, vết bệnh sẽ có màu xám xanh do đài và bào tử nam phát triển, viền nâu hẹp hay mờ có quang mau vàng quanh vết bệnh. Trên các giống kháng mạnh, đốm bệnh là những đốm nâu nhỏ từ bằng đầu kim đến 1-2 mm. Ở giống kháng vừa, vết bệnh có hình tròn hay hình trứng, tâm xám trắng, viền nâu, đài 2-3 mm. Nếu nhiễm nặng và sớm, lúa có thé bị lùn, nhiều vết trên lá làm cháy lá.
Những vết nâu nhỏ đó được gọi là các vết bệnh mãn tính, còn các vết bệnh màu xám trắng và khá lớn được gọi là vết bệnh cấp tính (Ou, 1985). Triệu chứng bệnh trên cỗ bông và hạt Nam tan công trên cô bông, sẽ can trở việc vận chuyền chất dinh dưỡng từ cây lên nuôi bông, nuôi hạt, từ đó hạt lúa bị lép lửng. Nếu bệnh tấn công sớm sẽ làm cho hạt bị lép hoàn toàn. Bat kỳ phan nao của bông đều có thé bị nhiễm bệnh với triệu chứng là các vết màu nâu, các vùng ở gần gốc bông thường hay bị bệnh và hiện tượng này thường được gọi là triệu chứng thối cổ bông hoặc đạo ôn cô bông.
Các nhánh va gốc cũng bị bệnh (Su Huang Ou, 1985). Nếu vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, bệnh xuất hiện muộn khi hạt đã vào chắc thì gây hiện tượng gãy cô bông (Lương Minh Té và Vũ Triệu Man, 1998). Các biện pháp phòng trừ bệnh đạo ôn 1. Dự báo bệnh Dựa trên các yếu tố về canh tác, thời tiết va lịch sử bệnh, Sở nông nghiệp các địa phương có các dự báo về diện tích nhiễm bệnh và mức độ thiệt hại trước mỗi vụ sản xuất nhằm xác định các biện pháp quan lý bệnh và giảm thiêu thiệt hai do bệnh gây ra.
Tuy nhiên, dự báo về diện tích cũng như mức độ gây hại của bệnh đạo ôn trên lúa của các địa phương không thé theo kịp diễn biến của bệnh. Sử dụng giống kháng Giống kháng bệnh là một trong những biện pháp nhằm quản lý bệnh đạo ôn hiệu quả hiện nay. Giống kháng có ưu điểm mang lại giá trị kinh tế cao, an toàn với môi trường tự nhiên va dé áp dụng trong nông dan. Tuy nhiên, giống kháng không tôn tại lâu trong môi trường sản xuất do nam gây bệnh đạo ôn mang tính biến dị cao, dẫn đến tính kháng của cây lúa bi phá vỡ (Ou, 1985).
Biện pháp canh tác Theo Su Huang Ou (1985), mùa vụ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển của bệnh. Bồ trí mùa vụ tránh được các tháng âm ướt và sương mù. Ngoài ra chuẩn bị đất tốt sẽ giúp cây trồng phát triển tốt, góp phần làm giảm bớt khả năng bộc phát của dich bệnh (Pham Văn Kim và cs 2003).